Khai phá vùng đất mới
Khởi đầu hành trình khai phá và định cư.
1. Mở đầu
Năm 2223, tại thiên hà Andromeda — cách tàn tích Địa Cầu cũ khoảng hai triệu năm ánh sáng.
Sau khi nhóm Mamoru phát hiện một vùng có chỉ số sự sống cao và hoàn thiện Căn Cứ Trung Tâm làm đầu mối cho kế hoạch định cư, dự án Người 2.0 bước vào giai đoạn được công bố rộng rãi. Căn Cứ đã có các khu tiếp nhận, kho dự trữ và hệ thống hỗ trợ; phía trước là hai hành tinh chưa được khai phá hoàn chỉnh.
Những người sắp bước ra khỏi Căn Cứ không mang theo ký ức về Địa Cầu cũ. Những cộng đồng đi trước cũng không còn chỉ tìm một điểm dừng tạm thời. Trong cùng một khoảng thời gian, họ sẽ phải quyết định nơi nào để sống, thứ gì cần giữ lại và làm thế nào để cùng tồn tại.
Chapter 01 không kể về một chiến thắng.
Đây là câu chuyện của sự bắt đầu — nơi câu hỏi lớn nhất được đặt ra cho những con người đang bước vào một quê hương mới:
Thế hệ mới của nhân loại sẽ xây dựng tương lai như thế nào?
2. Diễn biến
Con người đã rời khỏi Địa Cầu từ rất lâu trước khi những sự kiện này bắt đầu. Thuở ấy, quê hương đầu tiên của họ từng có những thành phố trải dài, những đại dương, những vùng đất màu mỡ và một nền văn minh đủ sức đưa ánh mắt ra ngoài bầu trời. Nhưng những cuộc đối đầu kéo dài, sự cạn kiệt tài nguyên và chiến tranh đã dần đẩy Địa Cầu tới chỗ không còn khả năng nuôi sống xã hội như trước. Con người vẫn tìm cách duy trì sự sống ở đó, đồng thời chuẩn bị những con đường khác. Khi việc rời đi từ một giấc mơ khai phá trở thành phương án sinh tồn, các phái đoàn lần lượt được đưa vào vũ trụ. Có đoàn tìm kiếm tài nguyên, có đoàn mang theo một cộng đồng, có đoàn ra đi với hy vọng tìm được một nơi mà những người ở lại chưa chắc còn cơ hội đặt chân tới.
Những chuyến viễn chinh đầu tiên đã mở ra kỷ nguyên ấy, nhưng chưa mang về lời giải mà nhân loại mong đợi. Các đoàn khác tiếp tục lên đường trong khi tình hình Địa Cầu ngày một tồi tệ. Đến khi quê hương cũ không còn cứu vãn được, những người sống sót đã phân tán trên nhiều hành trình khác nhau. Không một con tàu nào mang theo toàn bộ nhân loại. Mỗi phái đoàn có người dẫn đầu, nhiệm vụ, nguồn lực và những lựa chọn riêng; nhiều cộng đồng về sau được hình thành từ chính các chuyến đi ấy.
Trong những ngày nền văn minh cũ đi tới hồi kết, Tiến sĩ Mamoru cùng nhóm của mình rời Địa Cầu trên một con tàu vũ trụ lớn, mang theo công nghệ Người 2.0 — một trong những di sản quan trọng còn được giữ lại. Trên những hành trình khác nhau giữa khoảng không, nhân loại vẫn phải tìm cách sống sót và hướng về một nơi có thể dừng chân.
Con người đã tiếp tục sống như vậy qua hơn hai thế kỷ. Giữa các vì sao, họ dựng trạm cư trú, khai thác những vùng có tài nguyên, sửa chữa tàu thuyền và thiết lập các tuyến trao đổi để không phải cộng đồng nào cũng tự mình gánh lấy mọi khó khăn. Có nơi duy trì được qua nhiều thế hệ, có nơi bị bỏ lại khi nguồn cung không còn bảo đảm. Những con tàu đưa người đi xa hơn, những trạm trung chuyển giúp các nhóm còn giữ được liên lạc, nhưng không nơi nào mặc nhiên trở thành một quê hương chung chỉ vì con người có thể sống tại đó một thời gian.
Hai trăm năm cũng đủ dài để ý nghĩa của Địa Cầu thay đổi trong ký ức từng người. Một số cá nhân đã trực tiếp sống qua thời đại cũ, mang theo ký ức về bầu trời, mặt đất và những nơi họ không thể trở về. Nhiều người khác sinh ra trên tàu, ở các trạm cư trú hoặc trong những cộng đồng hình thành sau cuộc di tản. Họ biết Địa Cầu qua tư liệu và lời kể nhiều hơn là trải nghiệm của bản thân. Với họ, một căn phòng có hệ thống duy trì sự sống, một khoang quan sát nhìn ra khoảng không hay lối đi nối giữa các khu cư trú có thể là những hình ảnh quen thuộc nhất của khái niệm nơi ở.
Cuộc sống vẫn tiến về phía trước. Người ta học cách dựng công trình bằng những vật liệu có thể tìm được, tính toán quãng đường vận tải, dự trữ những thứ không dễ thay thế và sửa chữa một thiết bị cho đến khi nó không còn khả năng hoạt động. Các cộng đồng giao thương, bất đồng rồi lại cần nhau khi một tuyến tiếp tế gặp vấn đề. Những đứa trẻ lớn lên, người trưởng thành nhận tiếp công việc của thế hệ trước, còn các kế hoạch định cư vẫn phải đi kèm một câu hỏi rất thực tế: nếu nơi này không còn phù hợp, họ sẽ đưa người và tài sản của mình đi đâu tiếp theo? Con người chưa ngừng xây dựng, nhưng nhiều thứ được xây lên trong tâm thế có ngày phải bỏ lại.
Khi những tuyến hành trình tiến tới vùng không gian của thiên hà Andromeda, tình trạng phân tán ấy vẫn chưa chấm dứt. Nhân loại đã có công nghệ, kinh nghiệm và những cộng đồng đủ sức tồn tại độc lập ở nhiều nơi, nhưng vẫn thiếu một điểm đến có thể mở ra triển vọng định cư lâu dài trên quy mô rộng lớn. Thứ họ cần không chỉ là thêm một trạm dừng, một mỏ tài nguyên hay một khoang cư trú mới. Họ cần một vùng đất đủ điều kiện để những người đến sau có thể xây dựng cuộc sống mà không phải bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho lần rời đi kế tiếp.
Đến năm 2223, trên một con tàu vũ trụ cỡ lớn đang hoạt động trong vùng không gian mới, nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Mamoru dẫn đầu phát hiện một khu vực có chỉ số sự sống cao đáng chú ý khi phân tích dữ liệu khảo sát. Những thông số ban đầu được kiểm tra lại, đặt cạnh các kết quả đối chiếu và chuyển tới những nhân sự có chuyên môn liên quan. Chưa ai vội gọi đó là quê hương mới. Một vùng có sự sống không đồng nghĩa với một nơi con người có thể sinh sống an toàn, càng chưa thể bảo đảm điều kiện cho lượng lớn cư dân trong tương lai. Nhưng phát hiện ấy khác với những điểm dừng vốn chỉ được đánh giá qua nguồn tài nguyên hoặc khả năng duy trì một trạm nhỏ.
Các màn hình trong khu nghiên cứu lần lượt hiển thị những lớp dữ liệu mới. Có người rà lại kết quả đo đạc; người khác cập nhật hướng tiếp cận và đánh dấu những thông tin chưa thể xác minh từ xa. Mamoru yêu cầu nhóm tiếp tục đối chiếu, đồng thời chuẩn bị các phương án nếu khu vực thực sự có khả năng hỗ trợ việc định cư. Những lần phân tích tiếp theo dần đưa sự chú ý tới một tinh hệ có hai hành tinh mang điều kiện sinh thái đáng khảo sát. Từ chỗ là một vùng được đánh dấu trên bản đồ, nơi ấy bắt đầu trở thành một mục tiêu có thể đưa vào kế hoạch thực tế.
Sau hơn hai thế kỷ mà việc duy trì sự sống luôn gắn với những chuyến đi, phát hiện của nhóm Mamoru mở ra một câu hỏi khác: liệu con người cuối cùng đã tìm được nơi để ở lại? Chưa ai có thể trả lời ngay. Nhưng từ thời điểm đó, Mamoru cùng những người đồng hành bắt đầu chuẩn bị cho công việc vượt ra ngoài phạm vi tiếp tục hành trình của chính con tàu.
Phát hiện của nhóm Mamoru không ngay lập tức khiến tất cả những cộng đồng đang phân tán đổi hướng. Trước khi có thể kêu gọi một cuộc di chuyển lớn, họ cần hiểu rõ hơn vùng không gian vừa tìm thấy, đồng thời chuẩn bị một đầu mối đủ sức tiếp nhận những nhu cầu mà một con tàu viễn chinh khó có thể gánh mãi. Con tàu của nhóm Mamoru vẫn có giới hạn của một phương tiện viễn hành: mỗi khoang, mỗi nguồn dự trữ, mỗi khu vực làm việc đều phải đáp ứng những nhu cầu thiết yếu trên tàu. Một trung tâm phục vụ công cuộc định cư lại cần một cách tổ chức khác.
Mamoru bắt đầu đưa kế hoạch xây dựng Căn Cứ Trung Tâm vào triển khai. Những bên có liên hệ với nhóm Mamoru được mời tham gia bằng khả năng của mình; nhân lực, vật liệu, thiết bị và các chuyến vận chuyển tới khu vực thi công qua nhiều đợt. Không một tổ chức nào vì góp công mà mặc nhiên trở thành người sở hữu tương lai chung của nhân loại. Có những bên tham gia vì tin vào triển vọng tìm được vùng đất mới; có bên nhận thấy một điểm trung chuyển có thể mang lại lợi ích thiết thực cho cả những cộng đồng chưa quyết định định cư. Đối với nhóm Mamoru, công trình còn phải đáp ứng một yêu cầu quan trọng hơn: chuẩn bị đầy đủ điều kiện để triển khai dự án Người 2.0.
Từ những phần kiến trúc đang được hoàn thiện, Căn Cứ dần hình thành giữa không gian như một hòn đảo nổi khổng lồ. Người nhìn từ bên ngoài có thể thấy một khối công trình được tổ chức thành nhiều khu vực, những phần mở rộng nối với nhau, các lối tiếp cận và nơi để tàu thuyền tiến tới neo đậu. Nó không mang dáng dấp của một con tàu viễn hành thông thường. Người ta có thể đến đây, bốc dỡ vật tư, nghỉ lại, trao đổi thông tin rồi tiếp tục hành trình. Bên trong Căn Cứ là không gian sinh hoạt, hệ thống lưu trữ và nghiên cứu, các khu tiếp nhận, kho dự trữ cùng những đầu mối vận hành cần thiết cho đời sống hàng ngày. Công trình được thiết kế với khả năng di chuyển qua những khu vực không gian khác nhau khi cần, nhưng lúc này nhiệm vụ trước mắt của nó là trở thành một điểm tựa.
Một con tàu chở vật liệu tới khi một phần khu neo đậu vẫn còn đang được hoàn thiện. Nhân sự vận chuyển phải kiểm tra vị trí tiếp cận trước khi ra hiệu cho phương tiện tiến thêm; người ở bên trong chờ nhận kiện hàng đã chuẩn bị danh mục từ trước. Vật liệu được phân loại ngay sau khi chuyển xuống, thứ cần cho công trình chưa hoàn thiện đi theo một hướng, thiết bị dành cho sinh hoạt và nghiên cứu được đưa sang hướng khác. Cách đó không xa, một nhóm kỹ thuật vừa nghiệm thu xong khu vực mới phải trở lại sửa những chi tiết chưa phù hợp với hoạt động thực tế. Căn Cứ lớn lên qua chính những công việc lặp lại như thế, không phải chỉ qua một khoảnh khắc hoàn công.
Sự thay đổi hiện ra rõ nhất khi lưu lượng tàu thuyền bắt đầu tăng. Khác với việc vận hành một con tàu viễn hành, Căn Cứ còn phải đáp ứng nhu cầu của những người vừa cập bến: ai cần nơi lưu trú, chuyến hàng nào phải ưu tiên, phương tiện nào đang chờ vị trí neo đậu và thông tin nào cần chuyển ngay cho các bộ phận khác. Bảng chỉ dẫn xuất hiện ở nhiều lối đi. Những khu vực không được phép tự ý ra vào được phân định rõ hơn, trong khi những nơi phục vụ sinh hoạt chung bắt đầu đón cả người từ các tàu ghé tới.
Ở một bến tiếp nhận, người vận chuyển đang dò lại số thùng hàng thì phía sau có tiếng hỏi đường tới khu hậu cần. Anh vừa chỉ lối vừa cố giữ nguyên thứ tự danh sách đang cầm, nhưng chưa kịp ghi xong thì một nhân sự khác lại gọi hỏi về chuyến hàng kế tiếp. Công việc không thật sự đặc biệt; nó giống bất kỳ nơi nào bắt đầu trở nên đông đúc. Chỉ có khung cảnh phía ngoài khiến người mới tới phải dừng lại: sau khoảng trống dành cho tàu thuyền là bóng tối của không gian, còn Căn Cứ trải ra thành một quần thể kiến trúc rực ánh đèn giữa nền trời sao.
Mamoru không trực tiếp làm thay tất cả những việc ấy. Căn Cứ có lớp nhân sự đã đồng hành từ trước, mỗi người nắm một mảng vận hành. Tiểu Thất gắn với việc tiếp nhận và hỗ trợ Người 2.0; Ly Ly phụ trách thông hành, Nha Nha lo thu mua, định giá và phân phối tài nguyên, Cam Cam giữ nhịp lương thực và vật tư sinh tồn. Những bộ phận khác cũng tiếp tục đảm nhận thị trường, định danh, hỗ trợ sinh hoạt và xử lý các nhu cầu đặc thù. Từ góc nhìn của người vừa ghé tới, họ có thể chỉ là những người đang trả lời câu hỏi, cấp quyền ra vào hoặc xử lý một phiếu tiếp nhận. Nhưng nếu thiếu những việc bình thường ấy, Căn Cứ sẽ nhanh chóng trở thành một công trình lớn không đủ khả năng phục vụ người sống bên trong.
Việc xây dựng và hoàn thiện kéo dài qua nhiều đợt, đan xen với thử vận hành và chuẩn bị cho kế hoạch tiếp theo. Có phần công trình đã sáng đèn, đi lại thường xuyên khi ở phần khác tiếng dụng cụ vẫn vang lên. Những tuyến giao thông bên trong được bổ sung để nối các khu quan trọng, kho vật tư phải phân chia lại khi nguồn hàng tăng, còn nơi sinh hoạt bắt đầu được tính toán cho lượng cư dân lớn hơn hẳn. Từ ngoài nhìn vào, Căn Cứ giống một bến cảng khổng lồ không có biển nước; từ bên trong, nó mang dáng vẻ của một cộng đồng đang tự hoàn thiện để đón thêm những con người sẽ gắn bó với nơi này.
Căn Cứ Trung Tâm đã đủ ổn định để chuyển trọng tâm từ việc tự hoàn thiện sang chuẩn bị cho những người sẽ sống trong thế giới mới.
Với các khu tiếp nhận, kho dự trữ và hệ thống vận hành đã đủ điều kiện, Mamoru bắt đầu triển khai dự án Người 2.0 trên quy mô lớn. Đây cũng là lúc công việc chuẩn bị cho kế hoạch định cư bước sang một hướng đi mới. Các khu vực nghiên cứu và tiếp nhận lần lượt đi vào hoạt động, hướng tới việc hỗ trợ số đông cư dân sẽ bước vào đời sống mới. Phía trước họ có thể là một vùng đất cần được khai phá, một xã hội đang hình thành và cơ hội tự xây dựng nơi sinh sống của riêng mình. Ở thời điểm này, mối quan tâm của nhóm Mamoru là điều kiện để mỗi Người 2.0 có thể bắt đầu cuộc đời của mình.
Việc tiếp nhận dựa trên hai cơ chế bảo tồn đã được ghi nhận: bào thai cấp đông và dữ liệu sinh học có khả năng hỗ trợ tái cấu trúc thành cá thể sống.
Các nhóm nghiên cứu, chăm sóc và hậu cần phải điều chỉnh công việc cùng lúc. Nhiều hệ thống được kiểm tra trước khi tiếp nhận Người 2.0, các khu sinh hoạt được chuẩn bị, danh mục vật tư và điều kiện theo dõi sức khỏe được đối chiếu lại. Mamoru vẫn đứng đầu Căn Cứ và theo dõi dự án, nhưng không một người nào có thể tự mình xử lý tất cả yêu cầu phát sinh từ sự gia tăng quy mô ấy. Ở nơi tiếp nhận, Tiểu Thất cùng những nhân sự phụ trách phải bảo đảm mỗi người vừa hoàn tất quá trình phát triển đều được kiểm tra trạng thái và hỗ trợ phù hợp. Ở mảng sinh hoạt, Cam Cam phải tính thêm nhu cầu lương thực; những bộ phận khác chuẩn bị việc ra vào, thông tin cơ bản và điều kiện sống ban đầu.
Khu tiếp nhận được chiếu sáng dịu, tiếng trao đổi của nhân sự hòa cùng âm thanh thiết bị. Khi một cá thể Người 2.0 bắt đầu tỉnh lại, người ở gần không đưa ra bài diễn văn về lịch sử nhân loại. Họ kiểm tra phản ứng, hỏi những câu đơn giản, hướng dẫn người ấy làm quen với môi trường chung quanh. Người vừa mở mắt mất một lúc mới quay đầu đúng theo hướng có tiếng gọi. Sau khi ổn định hơn, anh nhìn bàn tay mình, nhìn thành khoang, rồi quan sát người đang đứng chờ. Đối với nhóm vận hành, đó là một phần công việc cần làm cẩn trọng. Đối với anh, mọi thứ mới chỉ bắt đầu.
Ở khu vực khác, một cô gái hỏi liên tiếp về những âm thanh mình nghe thấy. Có tiếng người đi qua cửa, tiếng hệ thống thông báo và tiếng xe chở vật tư ở phía xa. Nhân sự hỗ trợ giải thích rằng khu tiếp nhận đang hoạt động cùng lúc với nhiều bộ phận khác của Căn Cứ, vì vậy không phải tất cả âm thanh đều liên quan đến cô. Khi được hướng dẫn đi sang khu sinh hoạt, cô còn ngoái lại nhìn nơi mình vừa rời khỏi. Hành lang phía ngoài rộng hơn căn phòng ban đầu, nhưng điều làm cô chú ý là những người đi qua không hề tỏ ra ngạc nhiên khi có thêm một cư dân mới xuất hiện.
Nhịp tiếp nhận dần tạo nên những tương tác nhỏ giữa các Người 2.0. Có người nhanh chóng nhớ được lối đi và chỉ cho người còn đang lúng túng, có người vừa được hướng dẫn sử dụng một tiện ích đã quay sang giải thích lại cho bạn mình. Một vài người tình cờ ngồi cạnh nhau trong lúc chờ tới lượt, bắt đầu trò chuyện về những khu vực mình đã được tham quan. Ai vừa hiểu thêm một điều lại có thể khiến người bên cạnh thấy Căn Cứ bớt xa lạ.
Một buổi chiều trong khu sinh hoạt, thanh niên vừa hoàn tất tiếp nhận đi vòng qua một lối rẽ rồi lại trở về đúng chỗ mình đã đứng vài phút trước. Một người khác đi ngang nhận ra vẻ bối rối, hỏi anh định tới đâu. Anh nói muốn nhìn tàu thuyền bên ngoài. Người kia chỉ hướng tới khu quan sát, đồng thời nhắc rằng những khu có đánh dấu hạn chế không nên tự ý đi vào. Cả hai cùng bước tới cửa kính lớn. Bên ngoài, một con tàu đang rời vị trí neo đậu; ánh sáng chạy dọc phần thân trước khi nó từ từ thu nhỏ trong nền tối. Thanh niên nhìn rất lâu, cuối cùng hỏi nơi ngoài kia có phải đều trống rỗng như vậy không. Người đi cùng nói rằng còn rất nhiều nơi khác, nhưng phần lớn không thể nhìn thấy bằng mắt thường từ đây.
Cuộc sống của những người mới chẳng chỉ gồm học cách đi lại. Họ được giới thiệu về thế giới, các cộng đồng còn tồn tại, nguồn gốc của nhân loại và quyền lựa chọn con đường riêng khi đủ điều kiện. Người 2.0 không phải những bản sao mang sẵn ký ức của một người đã chết, càng không phải lực lượng thuộc quyền sở hữu của Căn Cứ. Mỗi người cần tự làm quen với cơ thể, khả năng, sở thích và những quan hệ sẽ hình thành về sau. Có người quan tâm tới việc xây dựng, có người muốn tìm hiểu công nghệ, cũng có người chỉ hỏi về các món ăn hoặc cách quan sát những con tàu bên ngoài.
Tại khu ăn uống, một nhóm mới nhận phần ăn của mình rồi tìm bàn trống. Một người hỏi bạn ngồi đối diện tại sao mọi người lại chọn các món khác nhau nếu mục đích chỉ là duy trì sức khỏe. Câu trả lời đến từ một người ngồi cùng bàn: vì vị giác mỗi người không giống nhau, và đôi khi người ta chọn thứ gì đó chỉ vì thích. Người hỏi thử thêm một miếng, nghĩ một lát rồi đổi món với người bên cạnh. Mấy người cùng bàn bật cười. Trong những tài liệu mà họ vừa tiếp nhận, không có phần nào nói một bữa ăn bình thường cũng có thể kéo dài bởi một chuyện nhỏ như vậy.
Một lần khác, khi xem tư liệu về Địa Cầu cũ, cô gái từng tò mò về tiếng động ngoài hành lang dừng lâu trước hình ảnh một khu rừng dưới nắng. Cô hỏi người hướng dẫn liệu trên những hành tinh thật sự, cây cối có mọc ngay ngoài nơi cư trú hay không. Người ấy đáp rằng có những khu vực như vậy, dù môi trường mỗi nơi rất khác và không phải hành tinh nào có cây cũng phù hợp để sống. Cô tiếp tục nhìn màn hình. Trong khung hình cũ, một con đường đất biến mất vào giữa tán cây. Cô có thể ghi nhớ tên của những loài thực vật, nhưng vẫn chưa hiểu cảm giác bước trên mặt đất dưới một bầu trời thực sự là thế nào.
Căn Cứ ngày một đông hơn. Đôi khi phòng sinh hoạt không còn yên tĩnh như trước, giờ ăn phải sắp xếp kỹ hơn và người tới tìm hỗ trợ cũng nhiều hơn. Một số nhân sự làm việc muộn để hoàn tất hồ sơ tiếp nhận hoặc điều chỉnh không gian sinh hoạt; khu neo đậu vẫn tiếp tục nhận hàng phục vụ dự án Người 2.0. Người 2.0 dần tạo nên một đời sống chung, nơi các hoạt động nhỏ thường diễn ra song song với công việc mà Mamoru cùng các bộ phận chuyên môn đang theo đuổi.
Khi các bản dựng mới về vùng có sự sống được đưa vào tài liệu giới thiệu, những người vừa tiếp nhận cũng bắt đầu nghe nói về khả năng có một nơi để định cư. Chưa ai hứa rằng họ nhất định phải tới đó, cũng chưa ai chắc chắn điều kiện thực tế sẽ giống những hình ảnh được dựng bằng dữ liệu. Nhưng trong các cuộc trò chuyện, câu hỏi dần thay đổi. Trước đây người mới thường hỏi Căn Cứ còn khu vực nào chưa thấy. Giờ đây, họ bắt đầu hỏi ngoài Căn Cứ sẽ có những gì.
Việc khảo sát không dừng lại chỉ vì Căn Cứ đã mở rộng hoạt động. Qua những đợt phân tích tiếp theo, nhóm Mamoru thu thập thêm dữ liệu về vùng mục tiêu, các điều kiện sinh thái đáng chú ý và những giới hạn cần tính tới nếu tiến hành một cuộc di chuyển lớn. Những bản đồ, hình ảnh dựng và thông số được chuyển cho bộ phận hậu cần, vận tải và các bên liên quan đánh giá từ góc độ thực tế. Một nơi có sự sống không có nghĩa nơi ấy đủ đất thuận lợi cho mọi người; việc đưa tàu tới gần một hành tinh cũng chưa đồng nghĩa mọi phương tiện đều có thể hạ cánh an toàn.
Cuộc họp về kế hoạch công bố vì thế không diễn ra như một buổi lễ chỉ để thông báo tin tốt. Mamoru có mặt với tư cách người đứng đầu Căn Cứ, cùng nhóm nghiên cứu trình bày những điều đã xác minh. Những đại diện khác xem xét khả năng tiếp nhận, phương tiện di chuyển, cách tổ chức các đợt khảo sát và quyền tiếp cận thông tin. GUIDER tham gia ở phần liên quan đến trật tự và những vấn đề có thể nảy sinh khi nhiều cộng đồng cùng tiến về một địa điểm chưa có hệ thống quản lý ổn định. Căn Cứ và GUIDER đứng trước cùng một bài toán, nhưng không phải quan hệ cấp trên ra lệnh cho cấp dưới.
Hình ảnh vùng mục tiêu xuất hiện trên màn hình chung. Một người phụ trách hậu cần muốn biết nếu tin tức được truyền rộng ngay, liệu khả năng tiếp nhận có chịu nổi lượng tàu tập trung trong thời gian ngắn. Người khác hỏi điều gì xảy ra nếu Căn Cứ giữ kín tọa độ quá lâu. Những tổ chức đủ phương tiện để tiếp cận trước có thể chiếm các vùng thuận lợi, trong khi các cộng đồng nhỏ và những cá nhân không có tàu riêng sẽ chịu bất lợi ngay từ bước đầu. Việc phát hiện ra một nơi có thể sinh sống rất dễ trở thành nguồn tranh chấp mới nếu cơ hội tiếp cận bị nhìn nhận như tài sản của một nhóm riêng lẻ.
Ý kiến nối tiếp ý kiến. Người đề xuất công bố sớm phải chấp nhận rằng không thể bảo đảm an toàn tuyệt đối cho mọi đoàn lên đường; người muốn khảo sát thêm cũng phải trả lời tới khi nào là đủ và ai được quyền nhận thông tin trước. Không một phương án nào xóa hết rủi ro. Dữ liệu nghiên cứu có thể giúp chọn hướng tiếp cận, còn hậu cần có thể hỗ trợ những đợt di chuyển đầu tiên, nhưng quyết định ở lại hay lên đường vẫn thuộc về từng cộng đồng và từng con người.
Sau cùng, Căn Cứ thống nhất công bố tọa độ kèm theo những cảnh báo cần thiết, đồng thời chuẩn bị các tuyến hỗ trợ và phương án tiếp cận theo từng đợt. Những đơn vị có khả năng đi trước sẽ đóng vai trò khảo sát, cập nhật tình hình cho người đến sau, thay vì biến toàn bộ vùng đất thuận lợi thành lãnh địa chỉ vì mình tới sớm. Đó là một định hướng quan trọng nhưng chưa đủ tạo ra trật tự pháp lý hoàn chỉnh; những vấn đề cụ thể khi cư dân thật sự đặt chân xuống vẫn sẽ phải giải quyết trên thực địa.
Phần công bố về Người 2.0 cũng được chuẩn bị trong cuộc họp. Căn Cứ giới thiệu dự án Người 2.0 và kế hoạch hỗ trợ thế hệ này bắt đầu đời sống giữa xã hội hiện tại. Mamoru không trình bày họ như những công cụ được tạo ra để đưa đi khai phá bằng mọi giá. Những người vừa được tiếp nhận cần được chăm sóc, hướng dẫn và có khả năng lựa chọn tương lai. Một số sẽ ở lại Căn Cứ lâu hơn, một số có thể theo những đoàn đầu tiên khi đã đủ điều kiện, số khác sẽ tìm cách đi riêng sau này. Không cộng đồng nào chỉ nhờ tham gia kế hoạch phục hưng mà có quyền quyết định số phận của họ.
Khi buổi công bố chính thức diễn ra, bản đồ vùng mục tiêu và các cảnh báo được đặt cạnh thông tin về Người 2.0. Những hình ảnh dựng sơ bộ cho thấy triển vọng đáng chú ý, nhưng phần cảnh báo vẫn hiện diện rõ ràng: hành tinh chưa được khai phá hoàn chỉnh, môi trường còn những yếu tố chưa rõ và không ai được bảo đảm rằng chuyến đi sẽ diễn ra như dự tính.
Trong khu sinh hoạt Căn Cứ, những Người 2.0 mới đứng nhìn bản đồ đang được trình chiếu. Chàng trai từng tới ô cửa quan sát nhận ra ký hiệu vùng mục tiêu trong một buổi giới thiệu trước đó. Lần này, bên cạnh hình ảnh còn có lộ trình và những đầu việc cần chuẩn bị. Một người ngồi gần hỏi anh có muốn đi hay không. Anh đáp mình chưa biết sẽ làm gì ở đó, rồi nhìn hình ảnh một vùng đất rộng hơn rất nhiều bất kỳ hành lang nào anh đã đi qua. Người hỏi nói có lẽ cứ tìm hiểu trước, bởi quyết định một nơi sẽ ở không giống chọn một điểm tham quan. Cuộc trò chuyện bị át đi khi phần tiếp theo của thông báo bắt đầu.
Ở những trạm cư trú cũ, tin tức tạo ra những phản ứng khác nhau. Có nhóm lập tức kiểm tra tình trạng tàu, tính lại số vật tư và thông báo cho các thành viên. Có cộng đồng chọn chờ thêm kết quả khảo sát, không muốn mạo hiểm bỏ một điểm ở đã vận hành ổn định. Người từng sống qua nhiều lần di chuyển hiểu rằng lời hứa về một vùng đất mới không tự biến thành nhà cửa, ruộng vườn hay kho lương thực. Họ nhìn vào kế hoạch di chuyển, rồi lại nhìn những công trình quanh mình, cân nhắc thứ gì đáng mang theo và thứ gì vẫn có thể duy trì nếu chưa đi.
Một người tham dự buổi trao đổi nội bộ đặt câu hỏi: nếu họ không tới lúc này, liệu về sau còn cơ hội hay không? Không ai có thể đưa ra một lời bảo đảm trọn vẹn. Căn Cứ cũng không yêu cầu tất cả phải rời nơi ở hiện tại. Nhưng từ ngày tọa độ được công bố, trên nhiều tuyến liên lạc đã bắt đầu xuất hiện những kế hoạch có cùng một điểm đến. Trong hai thế kỷ trước, con người thường nhận tin về một trạm có thể giúp họ sống tiếp chặng đường kế tiếp. Lần này, họ nhận được thông tin về một nơi có thể đáng để xây dựng cho những năm tháng chưa tới.
Sau buổi công bố, các cộng đồng bắt đầu chuyển thông tin thành kế hoạch di chuyển. Ở một trạm trung chuyển, người ta chuyển tiếp tọa độ cho đoàn vận tải sắp khởi hành. Trên một con tàu cư trú, các thành viên tập trung trước bản đồ rồi bàn xem có nên thay đổi lộ trình đã định từ trước hay không. Những người đang ở xa không thể chỉ nghe thông báo mà lập tức xuất hiện tại điểm đến. Họ cần kiểm tra phương tiện, thu xếp vật tư, cân nhắc những thứ có thể bỏ lại và quyết định ai muốn tham gia. Có cộng đồng chuẩn bị rất nhanh nhờ đã quen với việc di chuyển; có nơi cần thêm thời gian vì một điểm cư trú đã vận hành lâu năm không thể đóng lại chỉ bằng một lời kêu gọi.
Căn Cứ trở nên bận rộn hơn nhưng không phải mọi con tàu đều phải đi qua đây. Những đoàn gần khu vực trung tâm ghé tới để nhận thông tin, chuyển hàng hoặc sử dụng các đầu mối hậu cần, trong khi nhiều nhóm khác xuất phát từ nơi ở của mình và theo những tuyến đường riêng tới vùng mục tiêu. Ngoài các bến neo đậu, tàu thuyền lần lượt đến rồi đi; bên trong, nhân sự vận hành phải cập nhật lịch tiếp nhận, kiểm tra lượng vật tư lưu chuyển và trả lời những câu hỏi lặp lại về điều kiện tiếp cận. Một người từ đoàn khách muốn biết chỗ nào đủ an toàn để đưa người xuống trước; một người khác chỉ cần hỏi liệu còn tuyến liên lạc hoạt động nếu phải đổi hướng giữa đường. Đối với Căn Cứ, việc điều phối một cuộc di chuyển như thế khác xa chuyện chuẩn bị cho một chuyến viễn chinh của riêng mình.
Các kho hàng cũng cho thấy từng cộng đồng hình dung tương lai khác nhau ra sao. Có đoàn ưu tiên trang bị khai thác, có đoàn chuẩn bị công cụ dựng nhà và lượng lớn vật liệu sinh hoạt. Có người mang theo những thứ chẳng đóng góp trực tiếp cho một bãi đáp ban đầu, nhưng lại quan trọng đối với cuộc sống mà họ hy vọng xây dựng: vật dụng quen thuộc, tư liệu, đồ dùng của cộng đồng. Nhân sự vận tải phải tính toán trên những giới hạn thực tế, bởi bất kỳ món gì được đưa lên tàu đều chiếm chỗ của một món khác. Không ai có thể bê nguyên cả điểm định cư cũ đi theo mình; cuộc đại di chuyển bắt đầu bằng rất nhiều quyết định nhỏ về thứ đáng giữ lại.
Một bộ phận Người 2.0 mới cũng chuẩn bị lên đường. Những ai chưa đủ điều kiện hoặc chưa muốn đi vẫn có thể tiếp tục nhận hỗ trợ tại Căn Cứ. Người quyết định tham gia được hướng dẫn về hành trình, cách ứng phó trong môi trường chưa quen thuộc và giới hạn của các điểm tiếp nhận ban đầu. Chàng trai từng nhìn tàu từ cửa quan sát đứng trước danh mục đồ cần mang, cố hình dung vì sao mình lại phải chuẩn bị những thứ nghe hết sức bình thường như vật dụng sinh hoạt, trang bị cơ bản và nguồn dự trữ cá nhân. Người hướng dẫn nhắc rằng đến một nơi có sự sống không có nghĩa sẽ có ngay một căn phòng, một bàn ăn hoặc cửa hàng như tại Căn Cứ. Anh nhìn tờ danh mục thêm lần nữa rồi bắt đầu kiểm lại hành lý.
Trong dòng người đang chuẩn bị ấy có những cộng đồng đã tồn tại từ lâu. Làng Cáo, sau giai đoạn tương đối khép kín, bắt đầu đưa người và nguồn lực hướng tới vùng đất mới như một phần của quá trình mở cửa trở lại. Thangterter, còn có tên ghi trong hồ sơ là Thangteter, cùng Miunee (miiuneee) và TayakiDauDo xuất hiện trong giai đoạn di chuyển này. Làng Miner cũng có những thành viên dày dạn kinh nghiệm lên đường. Họ từng đóng vai trò đáng kể trong việc kết nối, giao thương và vận chuyển giữa các phái đoàn rải rác; vì vậy chuyện chuẩn bị một hành trình dài không xa lạ. Điều đang thay đổi là mục đích của những tuyến đường: từ nối các điểm tồn tại tạm thời thành cùng hướng về một vùng có triển vọng định cư chung. Vai trò cũ của Làng Miner bắt đầu chuyển dịch, nhưng cộng đồng ấy không đột ngột tan rã chỉ vì xuất hiện Căn Cứ.
GUIDER cũng có nhân sự tham gia giai đoạn khai phá. Dizzy, với kinh nghiệm cứu hộ và hỗ trợ thực địa, cùng Cunhihihihi, khi ấy vẫn thuộc lực lượng cảnh binh, nằm trong số những người hiện diện tại vùng đất mới. Họ không đại diện cho toàn bộ cuộc di chuyển và GUIDER cũng không chỉ huy mọi cộng đồng. Bên cạnh các tổ chức là không ít cá nhân chọn hành trình độc lập. Ch1zet đã rời GUIDER từ trước và tiếp tục đi với tư cách hành giả; Huybeokute lên đường khi vẫn chỉ là một người muốn tìm nơi thích hợp cho cuộc sống của mình, chưa có ngôi làng mang tên anh. LeQuang_450 tham gia làn sóng di chuyển cùng thời kỳ, nhưng phải tới giai đoạn định cư sau đó mới bắt đầu làm việc cùng Huybeokute.
Nhiều gương mặt khác xuất hiện trong những ghi chép về cuộc đại di chuyển: Valhein2611, Suruko, thang1403, notbelligo, VietCongKiddo, SilverMist11841, ShallTear, pthaoo, M4nhDwy, UchihaItachi, EnderPhantom, THZ_MinhMC, meffols và mhoa2000000002. Không phải mọi cái tên đều có hồ sơ mô tả xuất phát điểm hoặc phe phái. Có người đi cùng nhóm nhỏ, có người tự thu xếp chuyến đi; chính sự đa dạng ấy khiến cuộc hội tụ không mang dáng vẻ của một đội hình duy nhất dưới một lá cờ. Ngoài những tên tuổi còn được ghi nhận, rất nhiều người khác cũng lựa chọn tham gia mà không để lại câu chuyện riêng trong tư liệu của giai đoạn đầu.
Qua các tuyến đường, những phương tiện mang hình dáng và quy mô khác nhau bắt đầu tiến về cùng một vùng không gian. Một nhóm tới sớm phải chờ đợt khảo sát cập nhật hướng tiếp cận; những đoàn đi sau nhận thông tin về tình trạng giao thông trước khi tiếp tục. Từ xa, các con tàu chỉ là những đốm sáng xuất hiện giữa bóng tối. Khi đến gần, đằng sau mỗi đốm sáng là một cộng đồng với số người, nguồn lực và lý do lên đường khác nhau. Có những người từng biết Địa Cầu như một nơi thật sự, có những người sinh ra nhiều năm sau khi quê hương cũ không còn khả năng sinh sống, và có những Người 2.0 chưa từng đặt chân lên một hành tinh nào.
Một nhân sự đã tham gia không ít chuyến vận chuyển nhìn qua cửa quan sát, thấy những con tàu khác đang điều chỉnh lộ trình rồi trở lại kiểm tra thiết bị. Người trẻ bên cạnh hỏi ông lần này có khác các lần trước không. Ông đáp rằng chưa thể biết khi chưa xuống tận nơi. Nói xong, ông nhìn lại hàng phương tiện đang tiến về một điểm đến và bảo rằng đã lâu lắm rồi mới có nhiều người cùng chuẩn bị cho một việc không bắt đầu từ thông báo phải rời bỏ thứ gì đó. Dưới vẻ ngoài của hoạt động vận tải là một thay đổi sâu hơn: nhân loại đang chủ động di chuyển vì một tương lai có thể dựng lên, không đơn thuần vì cần chạy khỏi nơi vừa mất.
Điểm đến ấy là tinh hệ mà nhóm Mamoru đã phát hiện, nơi có hai hành tinh mang điều kiện sinh thái đáng chú ý, được định danh lần lượt là Địa Tinh Giới và Thiên Tinh Giới. Địa Tinh được lựa chọn làm mục tiêu đổ bộ chính nhờ hành lang quỹ đạo tương đối thoáng, không bị những dải đá dày đặc cản trở như khu vực quanh hành tinh còn lại. Song điều kiện thuận lợi trên đường tiếp cận chỉ giải quyết một nửa bài toán. Nhìn qua các bản dựng địa hình, người ta thấy đồi núi nối nhau giữa rừng rậm, nhiều dãy núi cao và nhọn vươn lên ngay sát bờ biển. Địa tầng còn trẻ, chưa qua quá trình phong hóa đủ lâu để hình thành những đồng bằng rộng lớn. Nơi có thể đưa một con tàu xuống an toàn chưa chắc đã có lối đưa hàng hóa ra ngoài; nơi gần nguồn nước lại chưa chắc đủ rộng cho hàng loạt phương tiện cùng hạ cánh.
Bởi vậy, cuộc đổ bộ không diễn ra như một lần toàn bộ nhân loại cùng bước xuống một bãi đất. Các đoàn có tàu, nhân sự và phương tiện riêng tiếp cận theo khả năng đã chuẩn bị. Những đội đi trước khảo sát những vị trí khả thi, đối chiếu địa hình thực tế với dữ liệu gửi từ trên cao rồi cập nhật thông tin cho các chuyến tới sau. Đồng thời, Căn Cứ tổ chức một khu tập trung trên bề mặt Địa Tinh để đón phần lớn Người 2.0. Khu vực này được lựa chọn và dựng những hạng mục ban đầu nhằm bảo đảm rằng người vừa xuống hành tinh không lập tức phải tự xoay xở giữa địa hình xa lạ. Nó là điểm khởi đầu dưới mặt đất do Căn Cứ chuẩn bị, không phải bản thân Căn Cứ Trung Tâm đã hạ xuống hành tinh.
Nhìn từ quỹ đạo, các luồng di chuyển hướng tới Địa Tinh có vẻ cùng chung một mục đích. Nhưng bên trong những con tàu, sự chuẩn bị cho chuyến đi đã khác nhau ngay từ trước khi chúng tiến vào khí quyển.
Ở một phương tiện thuộc nhóm cư dân phái đoàn cũ, vài người đang xem lại bản đồ khu vực dự định hạ cánh. Những người này không nhất thiết sinh ra trên Địa Cầu; nhiều người lớn lên giữa các trạm cư trú và những chuyến viễn hành sau cuộc di tản. Điều họ có là kinh nghiệm thực tế tích lũy trong thời gian dài: cách lựa chọn một điểm trú, bảo đảm nguồn nước, đánh giá tuyến vận chuyển, dựng những công trình đầu tiên rồi điều chỉnh khi điều kiện thực địa không như dự tính. Trong khoang hàng là vật tư, công cụ, thiết bị và những thứ họ đã tự chuẩn bị theo nhu cầu riêng. Không phải nhóm nào cũng giàu nguồn lực hoặc mang theo được máy móc hiện đại, nhưng phần lớn đã quen với việc phải lập kế hoạch trước khi dừng chân ở một nơi mới.
Một người phụ trách khảo sát chỉ vào vùng đất nằm cách bãi đáp dự kiến không xa, đề xuất tới đó trước khi đưa phần lớn vật tư xuống. Người ngồi bên cạnh muốn kiểm tra đường đi và điểm cấp nước; nếu lối tiếp cận thực tế bị những sườn dốc chia cắt, chỗ trông thuận tiện trên bản đồ sẽ không còn giá trị. Cuộc trao đổi không mang vẻ hào hứng của những người sắp thấy hành tinh lạ lần đầu. Nó giống cuộc bàn việc đã diễn ra không ít lần trước đây, chỉ khác lần này họ đang lựa chọn một nơi với hy vọng có thể ở lại lâu dài.
Khi phương tiện tiến vào khí quyển, mây lướt qua cửa quan sát, để lộ những dải rừng và bóng núi đang lớn dần lên. Người có nhiệm vụ vẫn theo dõi thông số; một vài cư dân khác nhìn xuống, trao đổi về địa hình ngay cả khi mặt đất còn ở rất xa. Tàu chạm xuống vị trí đã lựa chọn. Các thành viên có kinh nghiệm bước ra theo thứ tự công việc: kiểm tra xung quanh, xác định lối di chuyển, đưa những trang bị cần dùng trước xuống rồi chuẩn bị cho nhóm kế tiếp. Một người cúi xuống nhặt chút đất, bóp nhẹ trong lòng bàn tay. Anh từng đặt chân lên những nơi khác và biết chỉ nhìn bằng mắt thường chưa thể kết luận điều kiện canh tác, nên sớm đứng dậy để tiếp tục cùng nhóm khảo sát. Nhưng trước khi quay đi, anh vẫn nhìn về phía rừng một lần nữa. Điều anh muốn dựng ở đây không còn chỉ là một nơi đủ sức chống đỡ qua vài chặng đường.
Ở các vị trí khác, những nhóm lâu năm cũng bắt đầu bằng cách riêng. Có đoàn sớm chia nhân sự đi tìm địa điểm thích hợp cho khu sản xuất; đoàn khác ưu tiên chỗ ở và kho, vì biết vận chuyển hàng qua vùng dốc sẽ rất tốn sức nếu đặt sai vị trí ban đầu. Một số giữ phương tiện và nguồn lực tập trung trong lúc thăm dò, một số đủ khả năng nhanh chóng tỏa ra khỏi bãi đáp. Các quyết định không giống nhau, nhưng họ có điểm chung: không cần chờ người khác dạy lại toàn bộ công việc sinh tồn cơ bản. Kinh nghiệm cho phép họ chủ động nhận ra mình nên làm gì trước, dù địa hình Địa Tinh vẫn có thể buộc cả người từng trải phải sửa kế hoạch.
Trong khi những đoàn ấy bắt đầu tìm chỗ đứng riêng, một luồng tiếp nhận khác diễn ra tại khu tập trung do Căn Cứ chuẩn bị.
Những chuyến đưa Người 2.0 xuống Địa Tinh hướng về khu vực đã được khảo sát và tổ chức để tiếp nhận số đông. Trước khi đợt người mới đến, lực lượng đi trước phải bảo đảm nơi đây có bãi xuống phù hợp, khoảng đất phục vụ tập kết, chỗ trú ban đầu, các điểm cung ứng và hướng dẫn cần thiết. Công trình chưa phải một thị trấn hoàn chỉnh; nhiều phần chỉ vừa đủ để vận hành và sẽ còn phải mở rộng khi lượng người tăng. Những lối đi được đánh dấu để tách luồng vận chuyển hàng khỏi nơi cư dân mới tập trung. Nhân sự phụ trách phải tính đến chuyện có rất nhiều người cùng cần nơi nghỉ, thức ăn, nước uống và công cụ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.
Trên một chuyến tàu thuộc luồng tiếp nhận này, chàng trai Người 2.0 từng đứng nhìn phương tiện qua cửa quan sát của Căn Cứ ngồi cạnh một nhóm cư dân mới khác. Anh đã đọc tài liệu giới thiệu về Địa Tinh, được hướng dẫn những điều cần lưu ý và biết mình sẽ tới một khu tập trung có người hỗ trợ. Hành lý mang theo không giống kho thiết bị của các nhóm viễn hành cũ. Căn Cứ đã chuẩn bị những trang bị cơ bản có thể cấp cho số lượng lớn Người 2.0; chúng phải đáp ứng nhu cầu khởi đầu và nằm trong khả năng cung ứng thực tế, chứ không thể biến mỗi người vừa xuống hành tinh thành một nhà thám hiểm có đầy đủ phương tiện riêng. Những thứ còn thiếu, họ sẽ phải học cách tạo ra, thu thập, trao đổi hoặc nhờ hỗ trợ trong quá trình sinh sống.
Khi hành tinh hiện ra phía dưới, các câu hỏi trong khoang cũng khác hẳn nhóm cư dân lâu năm. Một người muốn biết nơi họ xuống có thể nhìn thấy rừng thật không; người khác hỏi liệu thời tiết bên ngoài có thay đổi nhanh như phần cảnh báo đã nói. Chàng trai nhìn đường bờ biển xa phía dưới, định hỏi một câu rồi lại im lặng vì không biết nên hỏi từ đâu. Anh mới chỉ quen với những khung cửa quan sát, hành lang và khu sinh hoạt trên Căn Cứ. Mọi hình ảnh anh từng xem đều có giới hạn bởi kích thước màn hình; còn bề mặt hành tinh đang lớn dần trước mắt như thể chẳng có phần cuối.
Sau khi phương tiện hạ cánh và được xác nhận có thể mở cửa, những Người 2.0 mới bước ra theo hướng dẫn. Luồng gió đầu tiên khiến vài người bất giác đứng lại, người khác nhìn chăm chú vào khoảng trời không có trần nhà phía trên. Chàng trai cúi xuống quan sát mặt đất, thử đặt bàn chân trên một vùng không hoàn toàn bằng phẳng rồi ngẩng lên nhìn dãy núi ở xa. Anh đã biết những ngọn núi là gì từ tài liệu, nhưng chẳng tài liệu nào khiến anh thực sự hiểu khoảng cách từ nơi mình đang đứng tới sườn núi trước mặt. Một nhân sự tiếp nhận nhắc đoàn tiếp tục di chuyển, tránh chặn lối cho các chuyến hàng kế tiếp; sự ngỡ ngàng của họ phải diễn ra ngay trong nhịp công việc đang rất bận rộn.
Điểm đến đầu tiên của phần lớn những người trong đoàn không phải một thung lũng được tự tay lựa chọn hay một khu đất đã có sẵn phương án khai phá riêng. Họ được hướng dẫn tới khu tập trung. Tại đó, nhân sự kiểm tra việc tiếp nhận, chỉ những khu vực có thể sinh hoạt, phổ biến thông tin cơ bản và tổ chức bàn giao trang bị khởi đầu. Cách bố trí ưu tiên khả năng phục vụ đồng thời nhiều người: nơi trú, nguồn cung thiết yếu, chỗ tập kết vật tư, thông tin liên lạc và lối ra những khu vực an toàn đã được xác định. Công việc trông bình thường ấy là điều kiện để một thế hệ đông đảo có thể đặt chân xuống Địa Tinh mà không phải lập tức phân tán giữa rừng núi khi chưa biết rõ mình đang ở đâu.
Một cô gái Người 2.0 nhận phần trang bị của mình, kiểm tra lại danh mục rồi nhìn quanh những người cũng đang làm điều tương tự. Cô hỏi có phải thứ ai nhận được cũng gần giống nhau hay không. Nhân sự hướng dẫn giải thích rằng đây là phần hỗ trợ cơ bản phục vụ giai đoạn đầu; về sau mỗi người sẽ cần tự lựa chọn công việc, tìm kiếm thêm nguồn lực và trang bị phù hợp với hướng đi của mình. Cô gật đầu, nhưng khi nhìn những dãy núi ngoài khu tập trung, câu hỏi tiếp theo đã là liệu có thể tự mình đi tới đó ngay không. Người hướng dẫn nhắc rằng cần tìm hiểu địa hình và chuẩn bị trước. Bên ngoài nơi tiếp nhận là một hành tinh rộng lớn, không phải mọi khoảng đất nhìn thấy từ xa đều an toàn chỉ vì chúng nằm dưới cùng một bầu trời.
Những Người 2.0 nắm được cách vận hành khu tập trung bắt đầu giúp người bên cạnh tìm đúng nơi sinh hoạt và sử dụng các tiện ích ban đầu. Những người phụ trách không thể ở cạnh từng cá thể suốt cả ngày; việc cư dân hỗ trợ lẫn nhau bắt đầu xuất hiện ngay khi họ còn đang làm quen với khu tập trung. Có người hỏi nơi lấy nước, người khác muốn biết công cụ mình vừa nhận dùng vào việc gì, một nhóm đứng trước bảng chỉ dẫn bàn xem ngày mai nên đăng ký tìm hiểu công việc nào trước. Họ không hoàn toàn thiếu tri thức: nhiều người đã được giới thiệu kiến thức cơ bản khi còn ở Căn Cứ. Nhưng biết một việc qua hướng dẫn và tự tay thực hiện nó giữa môi trường mới là hai trải nghiệm khác nhau.
Bên ngoài, những con tàu tiếp tục ra vào Địa Tinh theo từng đợt. Một số nhóm cư dân cũ đã đi sâu hơn khỏi vị trí đổ bộ, chuyển tới những nơi thuận tiện cho kế hoạch riêng. Ngay tại khu tập trung của Căn Cứ, việc tiếp nhận Người 2.0 vẫn diễn ra liên tục; người mới tới làm quen chỗ ở trong khi người đến trước bắt đầu tham gia các công việc đơn giản. Hai khung cảnh xuất hiện đồng thời dưới cùng bầu trời: ở phía xa, những nhóm có kinh nghiệm đang đánh dấu vùng khai thác và lựa chọn nền đất để dựng nơi ở; tại điểm khởi đầu chung, một cộng đồng đông đảo đang học cách vận hành cuộc sống bên ngoài Căn Cứ từ những điều nhỏ nhất.
Rời khỏi bãi đáp, hai điều kiện xuất phát ấy không chia nhân loại thành hai phe, cũng không ấn định rằng mọi cư dân phái đoàn cũ đều sở hữu nhiều nguồn lực hay mọi Người 2.0 đều phải sống tập trung lâu dài. Những người từng đi qua thời đại lưu vong đem kinh nghiệm và thứ mình đã tích lũy để tìm nơi bắt đầu lại; phần lớn Người 2.0 mới được Căn Cứ trao cho một điểm tựa và lượng trang bị vừa đủ để bắt đầu tự xây cuộc đời. Từ bãi hạ cánh tới căn nhà đầu tiên, quãng đường của họ vì thế không giống nhau.
Với những cộng đồng đến từ các phái đoàn cũ, việc dựng nơi ở trên Địa Tinh thường mở ra bằng một bản kế hoạch đã có từ trước. Họ mang theo dụng cụ và phần vật tư riêng, phân người khảo sát nguồn nước, tìm vị trí lập kho, chọn đất cho nơi ở và đánh giá đường vận chuyển tới những điểm khai thác. Công việc có thể diễn ra nhanh vì nhiều người đã quen phải tổ chức mọi thứ ở môi trường xa lạ. Có nhóm đưa nhân lực đi sâu hơn để chiếm lĩnh những vị trí thuận tiện cho sinh hoạt, nhóm khác bám gần vùng tiếp cận để chưa phải đánh cược cả nguồn cung vào một con đường mới. Họ không cần được Căn Cứ chỉ dẫn từng bước, dù vẫn sử dụng dữ liệu khảo sát và các tuyến hỗ trợ chung khi cần.
Một nhóm từng có kinh nghiệm vận tải dựng kho tạm trước khi xây phần lớn nơi ở. Người phụ trách nhìn số vật tư đang được đưa xuống, yêu cầu giữ riêng những thứ phục vụ sửa chữa vì từ đây tới khi đường vận chuyển thuận tiện hơn, hỏng một thiết bị có thể kéo chậm cả công việc. Hai người khác đã đi tìm lối tới vùng đất ít dốc và quay lại với kết quả không hoàn toàn giống bản đồ. Thay vì chờ hướng dẫn, họ mở lại phương án xây dựng, bỏ một vị trí đã chọn và chuyển hướng sang nơi dễ di chuyển hơn. Những thay đổi như vậy khiến kinh nghiệm trở thành lợi thế cụ thể: người từng đi qua những cuộc khai phá khác biết lúc nào nên bỏ một lựa chọn đẹp trên giấy để giữ cho hoạt động của cả nhóm không bị đứt đoạn.
Nhưng sự chuẩn bị không xóa được mọi thiếu thốn. Một số trang bị cũ cần sửa trước khi dùng lâu dài; nguồn vật tư mang theo dù nhiều đến đâu cũng phải được bổ sung; địa hình Địa Tinh có thể khiến một phương án quen thuộc không còn phù hợp. Những nhóm lâu năm phải sớm nghĩ tới khai khoáng, khai hoang, sản xuất và trao đổi với bên ngoài. Điều họ có không phải một cuộc sống hoàn chỉnh được chuyển nguyên xuống hành tinh, mà là khả năng tự quyết định thứ tự những công việc cần làm với nguồn lực đang nắm trong tay.
Tại khu tập trung của Căn Cứ, buổi sáng đầu tiên của nhiều Người 2.0 mới lại bắt đầu theo nhịp khác. Một nhóm được hướng dẫn tới nơi nhận thông tin về công việc chung, nhóm khác làm quen với dụng cụ và những khu vực sinh hoạt cơ bản. Người vừa xuống chưa quen địa hình không lập tức được yêu cầu mang hết trang bị rồi tự tìm đất trong rừng. Căn Cứ đã chuẩn bị điểm tiếp nhận để mọi người có thể ổn định bước đầu: chỗ trú, nguồn cung cần thiết và các phần trang bị cơ bản có thể phân phát với số lượng lớn. Những thứ ấy đủ tạo điều kiện khởi đầu, không có nghĩa mỗi cá nhân đã được cấp sẵn một căn nhà riêng, dây chuyền sản xuất hoặc một bộ trang bị tối tân cho mọi hoàn cảnh.
Trong khu sinh hoạt, có người còn đang nhớ lại lối đi từ nơi nhận vật tư về chỗ nghỉ, người khác đã háo hức muốn tham gia công việc ngoài trời. Một nhóm tìm hiểu cách sử dụng dụng cụ vừa được phát, thử thực hiện theo hướng dẫn rồi trao đổi với người đứng gần khi làm chưa đúng. Chàng trai từng ngỡ ngàng trước bầu trời Địa Tinh cầm món công cụ của mình, nhìn về phía một khoảng đất cần dọn và hỏi phần việc ấy sẽ được sử dụng để làm gì. Người hướng dẫn giải thích rằng trước mắt họ cần mở thêm không gian sinh hoạt và giữ lối vận chuyển thuận tiện; sau đó những nơi còn trống mới có thể được sử dụng cho các nhu cầu khác. Câu trả lời rất bình thường, nhưng giúp anh hiểu rằng công việc của mình không chỉ để hoàn tất một yêu cầu nào đó từ Căn Cứ: nó sẽ trực tiếp thay đổi nơi anh đang sống.
Không phải Người 2.0 nào cũng bắt đầu như nhau. Có người sớm tiếp thu kiến thức thực hành nên tham gia hướng dẫn người bên cạnh. Người khác cần thêm thời gian để quen với nhịp làm việc, khí hậu và những việc trước đây chỉ đọc qua tài liệu. Những khu vực chung trở thành nơi họ tập chia công việc, học cách sử dụng nguồn cung có giới hạn và giải quyết những bất tiện nhỏ khi đông người cùng sinh hoạt. Tấm bảng hướng dẫn không thể thay thế việc một người từng làm rồi chỉ lại cho người khác; cũng chẳng ai có thể học hết cách sinh tồn trên một hành tinh chỉ qua vài buổi giới thiệu.
Sau một vài ngày, khu tập trung bắt đầu thay đổi bởi chính lao động của cư dân mới. Những lối đi vốn chỉ được chuẩn bị đủ cho việc tiếp nhận trở nên rõ ràng hơn vì có người sửa và mở rộng; một số nơi được dọn để bố trí thêm không gian sinh hoạt, kho hoặc công việc sản xuất cơ bản. Có nhóm thử canh tác ở khu vực phù hợp, có nhóm theo nhân sự có kinh nghiệm tìm hiểu cách khai thác những nguồn vật liệu gần đó. Vài ý tưởng ban đầu tỏ ra bất tiện nên phải làm lại. Một người đặt vật tư ở vị trí tưởng như dễ lấy, nhưng khi hàng mới tới thì cả lối đi bị vướng; vài người khác cùng chuyển chúng sang chỗ thích hợp rồi tiếp tục công việc. Những lỗi nhỏ không gây thành biến cố, song tạo nên kinh nghiệm mà trước đó họ chưa từng có.
Nơi tập trung cũng không thể mãi dựa hoàn toàn vào lượng dự trữ được chở từ Căn Cứ xuống. Càng có nhiều người, nhu cầu về chỗ ở, thực phẩm, công cụ và vật liệu càng tăng. Công việc khai phá quanh khu vực ban đầu vì thế mang thêm mục đích duy trì đời sống: cư dân cần biết làm ra một phần những thứ mình sử dụng, sửa chữa khi có hỏng hóc và mở thêm không gian cho người tới sau. Nhìn từ bên ngoài, những hoạt động ấy có thể chậm hơn quá trình một nhóm viễn hành cũ lập kho và triển khai khảo sát riêng. Nhưng đối với những Người 2.0 mới, mỗi hạng mục hoàn thành còn đồng thời là lần đầu họ thực sự học được cách vận hành một phần thế giới quanh mình.
Khi đã quen hơn, một số người bắt đầu rời phạm vi sinh hoạt chung để tìm nơi ở và công việc phù hợp với bản thân. Có nhóm nhỏ muốn dựng chỗ ở gần những người vừa quen tại khu tập trung; có người lựa chọn tiếp tục ở lại vì công việc hoặc chưa muốn tự khai phá; những người khác tham gia cùng các cộng đồng đã có nền tảng từ trước. Việc xuất phát ở cùng một điểm không có nghĩa mọi Người 2.0 phải tiếp tục sống chung, cũng không khiến Căn Cứ có quyền quyết định họ sẽ ở đâu về sau. Khu tập trung làm nhiệm vụ trao cho số đông một chỗ để bắt đầu, rồi dần trở thành một trong những đầu mối giúp họ bước ra đời sống rộng hơn.
Dizzy thường xuyên đi lại giữa những nơi cần trợ giúp trong thời kỳ này. Ở gần khu tập trung, những người mới chưa quen công việc có thể cần giúp sau một lần xảy ra sự cố khi chuyển hàng hoặc dựng nơi trú. Xa hơn, một nhóm tự khai phá gặp khó khăn khi đưa vật liệu qua đoạn dốc lại cần thêm người hỗ trợ; nơi khác có trường hợp bị thương nhẹ phải được đưa tới vị trí an toàn. Phần lớn công việc của cô không đủ lớn để mang tên một chiến dịch, nhưng những lần điều phối nối tiếp nhau giúp các cụm cư dân đang phân tán giữ được liên hệ. GUIDER vừa tham gia hỗ trợ thực địa, vừa bắt đầu phải giải quyết những vấn đề trật tự nảy sinh khi mỗi nhóm mở rộng hoạt động theo cách riêng.
Chỉ ít ngày sau khi các khu định cư bắt đầu tỏa ra, tranh chấp đất đai đã trở thành chuyện khó tránh. Những dải đất ven sông thuận tiện canh tác, cửa hang có quặng lộ thiên và nơi gần tuyến di chuyển được nhiều bên quan tâm. Nhóm có kinh nghiệm, nhân lực hoặc trang thiết bị tốt có thể khảo sát và dựng công trình nhanh hơn, trong khi người vừa bước ra khỏi khu tập trung cần thời gian để tìm hiểu địa hình và tích lũy nguồn lực. Sự khác biệt về điều kiện xuất phát khiến cơ hội tiếp cận vùng đất thuận lợi không phải lúc nào cũng đồng đều. Có người cắm một tấm biển rồi tuyên bố mình đã giữ cả khoảng đất rất rộng; nơi khác, bất đồng về một điểm khai thác có thể chuyển thành tranh đoạt hoặc cướp bóc.
GUIDER đưa ra những nguyên tắc sở hữu và phân xử tạm thời để tránh việc toàn bộ quyền lợi chỉ phụ thuộc vào ai đến trước hoặc ai có lực lượng mạnh hơn. Quyền chiếm hữu được xem xét trên công trình thực tế, hoạt động sinh sống và tuyến khai thác đang vận hành; việc cắm biển hay dựng mốc tượng trưng không mặc nhiên cho phép giữ một vùng đất vô hạn. Các trường hợp tranh chấp có thể được tiếp nhận, kiểm tra và phân xử thay vì để những người yếu thế buộc phải tự tìm cách trả đũa. Đây mới là biện pháp ứng phó trong giai đoạn khai phá, chưa phải bộ luật chung hoàn chỉnh sẽ được xây dựng sau đó.
Trong lúc những quy tắc đầu tiên được phổ biến, các nơi có người ở vẫn tiếp tục phát triển. Một số cộng đồng lâu năm đưa trang bị riêng vào khai khoáng và dựng các công trình ban đầu; tại khu tập trung, những Người 2.0 mới học cách khai thác, chuyển vật liệu rồi dùng chính thứ thu được để cải thiện chỗ ở. Gỗ được sử dụng nhiều trên mặt đất, còn đá và quặng phục vụ những nhu cầu xây dựng, công cụ và trang bị khác. Kho chứa vẫn nhỏ, nhiều hệ thống chỉ được dựng vừa đủ để hoạt động rồi sẽ phải sửa tiếp. Phần lớn các chuyến xuống mỏ không phải thám hiểm lớn: người ta lấy thứ mình cần, đem lên, sử dụng cho công việc hiện tại và tiếp tục vào hôm sau.
Hoạt động giao thương cũng giúp khoảng cách giữa các kiểu điểm định cư dần thu hẹp. GEM — General Exchange Measure — do Căn Cứ xác lập cung cấp một thước đo quy đổi chung khi các cộng đồng cần trao đổi tài nguyên, công lao động và dịch vụ. Một Người 2.0 có thể bắt đầu bằng lượng trang bị hỗ trợ cơ bản, rồi qua công việc và việc thu thập tài nguyên mà có thêm khả năng mua những thứ phù hợp với nhu cầu riêng. Một nhóm khai phá lâu năm cũng không nhất thiết phải tự sản xuất mọi thứ chỉ vì họ có kinh nghiệm; những món còn thiếu có thể được trao đổi với nơi khác. Vật đổi vật vẫn được sử dụng khi thuận tiện, nhưng GEM khiến quan hệ giữa các điểm định cư bớt phụ thuộc vào việc mỗi bên phải có đúng món mà bên kia đang cần.
Một người vừa mang vật liệu tới điểm giao thương xem lại mức quy đổi rồi quyết định giữ một phần để sửa nơi ở, trao đổi phần còn lại lấy dụng cụ cần thiết. Cách đó không xa, một nhóm đang tính lượng công sức có thể thuê cho đoạn đường cần hoàn thiện. Những việc ấy cho thấy cuộc sống bắt đầu nối những người có xuất phát điểm khác nhau vào cùng một mạng lưới. Dù tới đây với nhiều trang bị hay chỉ một phần hỗ trợ cơ bản, muốn tiếp tục xây dựng lâu dài họ vẫn phải lao động, hợp tác và tìm cách duy trì nguồn cung.
Khả năng thiết kế của ShallTear cũng xuất hiện trong mặt bằng sản xuất còn thiếu thốn ấy. Những công trình quy mô lớn có thể được hình dung, nhưng trang bị và vật tư thời kỳ đầu chưa cho phép biến mọi phương án thành hiện thực. Không phải ai có kinh nghiệm đều được trang bị đầy đủ, cũng không phải mọi hệ thống từng dùng ở trạm hoặc tàu cũ đều có thể đặt xuống địa hình Địa Tinh mà hoạt động ngay. Nhiều nơi phải dựng phương án vừa sức trước, cải thiện dần sau khi có thêm nguồn lực. Đây là công việc chung của cả những người đã quen khai phá lẫn những người mới bắt đầu học cách dựng đời sống.
Giữa những ngày đào, xây và sửa liên tục, câu cá bất ngờ trở thành hoạt động được hưởng ứng trong khoảng một đến hai tuần đầu của giai đoạn định cư. Ở những khu vực có nước, người ta mang cần tới, vừa tìm thêm thực phẩm vừa tranh thủ nghỉ ngơi. Có người đã quen câu cá từ trước; người khác mới biết cách cầm cần và phải hỏi người bên cạnh. Đôi lúc một đoạn bờ khá đông, những cuộc trò chuyện bắt đầu từ việc ai vừa câu được thứ gì rồi chuyển sang chuyện nhà cửa, đường đi hoặc công việc ngày mai. Trào lưu ấy không kéo dài và chẳng làm thay đổi đáng kể tiến trình khai phá, nhưng ngay tại đó, ranh giới giữa một người mới từ Căn Cứ xuống và một cư dân phái đoàn cũ đôi khi chỉ còn là ai đủ kiên nhẫn ngồi chờ phao động lâu hơn.
Về sau, từ khu tập trung ban đầu, những Người 2.0 bắt đầu tỏa ra nhiều hướng hơn. Một số tìm nơi phù hợp để xây dựng cùng người quen, một số tiếp tục gắn với công việc chung, người khác chọn đi xa hơn khi đã có đủ chuẩn bị. Những đoàn cư dân cũ cũng dần chuyển từ bãi đáp riêng sang nơi ở, nơi sản xuất hoặc tuyến giao thương ổn định hơn. Hai cách khởi đầu vẫn để lại những dấu ấn khác nhau lên các khu định cư, nhưng càng nhiều ngày trôi qua, bản đồ Địa Tinh càng được lấp đầy không phải bằng tên của hai nhóm người tách biệt, mà bằng những nơi mỗi người đã chọn để sống. Giữa bức tranh khai phá chung ấy, có những câu chuyện bắt đầu từ một lựa chọn rất riêng: tìm một góc đất phù hợp rồi tự dựng lấy nơi ở.
Huybeokute không chọn nơi dừng chân vì một nguồn tài nguyên đặc biệt hay lời mời gia nhập cộng đồng nào. Trong một lần tìm kiếm vị trí có thể sinh sống lâu dài, anh tới một góc thung lũng có phong cảnh vừa mắt, gần sông suối và địa hình không quá hiểm trở. Dòng nước đi qua không xa, những khoảng đất có thể cải tạo nằm xen giữa cây cối, còn các sườn dốc chung quanh không khiến việc ra vào trở thành một thử thách quá lớn. Với một người muốn bắt đầu xây dựng nơi ở nhỏ bằng chính công sức của mình, chừng ấy là đủ để quyết định dừng lại.
Công việc đầu tiên là chặt cây. Huybeokute dành những ngày đầu đi thu gom từng loại gỗ phù hợp, đưa vật liệu về nơi đã chọn rồi bắt đầu dựng nhà. Anh đặt từng cột, tính lại khoảng cách, ghép phần khung rồi mới tiếp tục với tường và mái. Không có một công trình đồ sộ hoàn thành chỉ sau vài thao tác. Có hôm anh dành phần lớn thời gian để chuẩn bị vật liệu mà hình dáng căn nhà chẳng đổi bao nhiêu; hôm sau, thêm một vài chi tiết mới được đặt vào đúng vị trí thì khung nhà bỗng trở nên rõ ràng hơn. Thứ anh đang xây trước mắt chỉ cần đủ vững để ở, có chỗ cất công cụ và thuận tiện tiếp tục mở rộng.
Một buổi chiều, sau khi hoàn thiện thêm phần khung, Huybeokute đứng lùi lại quan sát căn nhà. Từ chỗ ấy có thể thấy dòng nước gần thung lũng và khoảng đất anh dự định cải tạo. Anh xem lại những phần còn thiếu, cân nhắc lấy thêm gỗ trước hay chuẩn bị dụng cụ làm ruộng trước. Cuối cùng, căn nhà vẫn còn vài việc phải sửa, nhưng anh đã bắt đầu đánh dấu vùng canh tác. Nơi ở và nguồn sống phải lớn lên cùng nhau; nếu chờ một bên hoàn chỉnh hẳn mới làm bên còn lại thì chẳng biết bao giờ công việc mới bắt đầu ổn định.
Có được cây cuốc đủ tốt, anh tự tay cuốc những mảnh đất đầu tiên và mở các vụ trồng lúa mì, cà rốt, khoai tây. Một khu cacao nhỏ được bố trí thêm khi điều kiện cho phép. Anh không dựng ngay một nông trại khổng lồ, mà trồng mỗi loại một ít, theo dõi cách chúng phát triển rồi san lại những khoảng đất cần thiết để tăng diện tích. Khi một khu trồng đã đủ dùng, anh mở thêm nơi khác; những lối đi giữa ruộng và nhà được hình thành bởi các chuyến đi lặp lại mỗi ngày. Vùng đất quanh chỗ ở dần mang dấu vết của sự chăm sóc, nhưng vẫn còn nhiều góc phải phát quang, sửa địa hình hoặc đưa vật liệu tới.
Việc xây nhà, lát đường, gia cố và mở rộng nông trại khiến Huybeokute cần nguồn đá thường xuyên. Anh bắt đầu thử nghiên cứu máy farm đá, chuẩn bị các phương án rồi tự kiểm tra chúng. Không phải lần thử nào cũng thành công. Có thiết kế bị hỏng khi đưa vào hoạt động, buộc anh tháo ra xem lại; trong một sự cố khác, nước từ hệ thống tràn sang ruộng làm hoa màu ngập úng nhẹ. Huybeokute phải xử lý phần nước, xem lại chỗ bố trí và tiếp tục điều chỉnh. Vụ việc không phá hủy nông trại, nhưng đủ để nhắc anh rằng một hệ thống tiện lợi nếu đặt sai chỗ có thể gây thêm việc cho chính nơi nó định phục vụ.
Cùng với ruộng trồng trọt, anh nuôi thêm một đàn gà để lấy trứng rồi mở khu bí ngô. Từ nguồn cung ấy, bánh bí ngô bắt đầu xuất hiện giữa những sản phẩm anh tự làm. Việc canh tác không chỉ để đủ ăn trong ngày: khi có dư, Huybeokute mang hàng ra giao thương, đổi lấy những thứ điểm định cư còn thiếu. Anh không sống hoàn toàn tách biệt với cuộc khai phá đang diễn ra ở nơi khác. Những chuyến đi khiến anh biết thêm nhu cầu của người ngoài, còn nông trại sau mỗi đợt trao đổi lại có thêm lý do để mở rộng kho và cải thiện việc vận chuyển.
Khối lượng công việc dần nhiều lên. Nhà cần sửa, ruộng cần chăm, hệ thống cần kiểm tra, còn những chuyến giao thương không thể diễn ra nếu mọi thứ ở nhà đều phải chờ một người quay lại. Trong một lần đi trao đổi hàng hóa, Huybeokute gặp LeQuang_450 và nhận anh vào làm việc. Sự chăm chỉ của LeQuang_450 phù hợp với nhu cầu thực tế của điểm định cư lúc ấy, khi nông trại đã mở rộng đủ để cần thêm nhân lực. Từ đó, những việc vốn một mình Huybeokute phải xoay xở bắt đầu có thêm người chia sẻ. Nhà, ruộng, kho và các lối đi được duy trì theo nhịp đều đặn hơn.
Nếu một người ghé qua vào những ngày đầu, thứ họ nhìn thấy chỉ là một căn nhà đang dựng và vài khoảng đất mới cuốc. Vài tuần sau, họ có thể nhận ra thêm chuồng gà, ruộng bí ngô, kho chứa, những lối đi đã được dùng quen và các dấu hiệu sản xuất nối tiếp nhau. Đó vẫn chưa phải Làng Huybeo; cộng đồng mang tên ấy chỉ chính thức thành lập vào năm 2224. Ở giai đoạn hiện tại, nơi đây là kết quả của những ngày tự tay xây dựng, thử nghiệm, mắc lỗi, sửa chữa và cuối cùng có thêm một người cùng làm việc.
Không xa khỏi kiểu khai phá cá nhân ấy, một số nhóm cư dân nhỏ lựa chọn dựng nhà gần nhau để tiện hỗ trợ. Một khu cư trú sử dụng chủ yếu vật liệu đá lấy được từ hoạt động khai khoáng. Ban đầu, họ chỉ xây những gian đủ để ở và cất đồ. Khi thiếu không gian, một phòng khác lại được nối thêm vào phần cũ; khi cần kho, người ta mở rộng theo hướng còn có thể tận dụng địa hình. Các bức tường khá dày, cửa nhỏ và những lối đi hẹp khiến toàn bộ dãy nhà dần mang vẻ ngoài khép kín, gợi cảm giác như một khu ngục thất cổ.
Nhưng bước qua những cánh cửa ấy là đời sống bình thường. Có gian làm chỗ ngủ, gian dành cho công cụ, một khoảng trống để sửa đồ hoặc để tạm vật liệu vừa mang từ mỏ về. Người trở lại sau ngày làm việc có thể đặt món đồ đang cầm xuống cạnh cửa, hỏi người bên cạnh còn thiếu gì cho công trình ngày mai rồi đi nghỉ. Không có dấu vết xác nhận đây là một ngục thất thật hay một di tích đã tồn tại từ trước. Hồ sơ cũng không ghi rõ danh tính nhóm cư dân hoặc tổ chức nào đứng sau. Vẻ ngoài khác thường chỉ hình thành từ vật liệu, địa hình và cách họ nối thêm nhà cửa theo nhu cầu.
Làng Cáo đem tới một đối trọng khác cho bức tranh khai phá. Không giống những người bắt đầu từ một căn nhà độc lập, cộng đồng này đã có lịch sử và kinh nghiệm tổ chức từ thời lưu vong. Năm 2223 đánh dấu giai đoạn họ mở cửa và tái định cư rộng rãi hơn sau một thời gian tương đối khép kín, chứ không phải năm ngôi làng được thành lập lần đầu. Khi người và nguồn lực tiến vào vùng đất mới, công việc sắp xếp nơi ở, kho dự trữ và mặt bằng sản xuất được triển khai tương đối bài bản. Họ vẫn phải thích nghi với địa hình thật, thiếu một số điều kiện và sửa nhiều hạng mục khi thi công, nhưng đã có nền tảng để phân chia các phần việc.
TayakiDauDo đảm nhận hậu cần, giúp vật tư đi từ điểm tiếp nhận tới kho rồi đến những nơi đang xây dựng. Suruko trực tiếp tham gia các hoạt động xây dựng và sản xuất tại Làng Cáo; những ghi chép hiện có chưa xác định tư cách thành viên chính thức hay chức vụ riêng của người này. Thangterter cùng nhóm kỹ thuật tập trung hiện thực hóa các thiết kế farm, dựng từng phần rồi thử vận hành, điều chỉnh để phù hợp với nền đất, nguồn vật tư và hạ tầng thực tế. Hệ thống nào ổn định sẽ góp nguồn lực cho những công trình tiếp theo; những nơi chưa đạt yêu cầu lại được xem xét, sửa lại trước khi tiếp tục mở rộng.
Ở một khu sản xuất của làng, có thời điểm người đưa hàng tới phải chờ vì vị trí tập kết cũ đã không còn phù hợp với khối lượng vật tư mới. Người phụ trách hậu cần điều chỉnh hướng chuyển, trong khi nhóm kỹ thuật vẫn đang kiểm tra phần công trình kế tiếp. Những khó khăn ấy không làm mất đi lợi thế mà Làng Cáo tích lũy từ trước: họ có kinh nghiệm kết nối con người và biến tài nguyên thành hoạt động sản xuất có tổ chức. Tuy nhiên, đó mới là những bước tái thiết và mở rộng ban đầu, chưa phải giai đoạn một nền công nghiệp hoàn chỉnh đã hình thành.
Sự hiện diện của Làng Cáo khiến diện mạo xã hội trên Địa Tinh càng đa dạng. Có nơi bắt đầu từ một người chọn thung lũng đẹp để dựng nhà; có nơi vài cư dân ghép các phòng đá thành dãy nhà khép kín; có cộng đồng đã có tổ chức cũ nay dựng lại kho và hệ thống sản xuất ở vùng đất mới. Sự khác biệt không chỉ nằm ở vật liệu xây dựng. Nó nằm ở cách mỗi nhóm hiểu một nơi ở lâu dài cần những gì và họ sẵn sàng dành công sức cho việc nào trước.
Cunhihihihi cũng thiết lập chỗ định cư riêng trong thời kỳ này và tích cực giao thương. Giữa những tuyến đường mới mở, việc gặp nhau, trao đổi vật tư hoặc giúp người khác tìm thứ đang cần khiến các khu sinh sống có thêm liên hệ. Tại những cụm cư dân phân tán, Pupu_ và Zyzy thường hỗ trợ những người gặp khó khăn trong công việc thực địa, dựa trên kinh nghiệm có từ thời HELPER hoặc tiền-GUIDER. Các nhóm họ giúp đỡ vẫn có nơi ở và sinh hoạt riêng, chưa hình thành một ngôi làng chung có tổ chức rõ rệt. Đây là những sự giúp sức rải rác của cá nhân, không phải một chiến dịch do GUIDER ra lệnh. Pupu_ trong những ghi chép này cũng không phải Pu Pu thuộc nhóm nhân sự Căn Cứ.
Những người khác lại ít để lại dấu vết định cư. pthaoo rong ruổi qua nhiều nơi trên Địa Tinh, nhưng các hành động cụ thể không được ghi chép đầy đủ. THZ_MinhMC cũng có những chuyến đi riêng qua các khu vực khác nhau; không có cơ sở để khẳng định hai người đồng hành cùng nhau. Có người tiếp tục thăm dò địa hình, có người thử một điểm ở rồi chuyển sang nơi khác. Vùng đất mới không bắt ai phải dựng nhà ngay ở địa điểm đầu tiên mình tìm thấy. Những công trình mọc lên bên cạnh những con đường còn tiếp tục kéo dài ra ngoài tầm mắt.
Trong khi phần lớn người khai phá bận rộn trên Địa Tinh, hành tinh còn lại vẫn thu hút một số đoàn khảo sát. Thiên Tinh Giới nằm ở quỹ đạo xa hơn, bị bao bọc bởi các quầng mây bụi tĩnh điện và những dải đá vụn trôi dạt khiến việc tiến vào khó khăn. Từ xa, những lớp vật chất ấy tạo thành rào cản đối với phương tiện chưa đủ khả năng điều hướng hoặc thiếu người điều khiển có kinh nghiệm. Các đoàn muốn tiếp cận phải tính đường đi cẩn thận, chứ không thể đơn giản bay thẳng xuống như đã làm với những khu vực thuận lợi quanh Địa Tinh.
Ban đầu, chỉ những nhóm có công nghệ đủ tốt hoặc người lái thật sự dày dạn mới có khả năng vượt qua. Sau khi một khe hẹp tương đối ổn định được tìm thấy xuyên qua dải vật chất, việc qua lại bớt rủi ro và tạo điều kiện cho tuyến vận chuyển mới dần hình thành. Tuy nhiên, chuyện mở được đường vào không đồng nghĩa con người đã tìm được nơi phù hợp để dựng cộng đồng đông đúc. Thiên Tinh có khí hậu ẩm lạnh, mưa lớn và thời tiết khó đoán. Những đoàn khảo sát hoàn tất công việc thường quay lại Địa Tinh, nơi hạ tầng định cư đã phát triển hơn. Dân cư quyết định bám trụ tại hành tinh thứ hai vì vậy vẫn rất thưa.
EnderPhantom là một trong số ít người sớm tiến vào Thiên Tinh. Anh chọn một khu rừng gỗ già, rồi bắt đầu xây dựng theo cách khá khác thường nếu chỉ nhìn từ bên ngoài: thay vì dựng ngôi nhà nổi trước, anh tạo tầng hầm làm lõi sinh hoạt. Phần dưới đất cung cấp nơi trú và không gian cần thiết cho đời sống một người khi xung quanh còn là rừng rậm, đường đi chưa thuận tiện và thời tiết có thể thay đổi bất chợt. Sau khi tầng hầm đã đủ dùng, anh mới phát quang từng phần mặt đất bên trên, chuẩn bị diện tích để tiếp tục xây.
Qua những đợt thi công, một căn nhà dần xuất hiện trên mặt đất. Kích thước không lớn, nhưng tương đối đầy đủ tiện nghi so với nhu cầu riêng của chủ nhân. Từ bên ngoài, người đi qua sẽ nhìn thấy nơi ở giữa khoảng rừng đã được dọn gọn; phần lõi phục vụ sinh hoạt vẫn nằm bên dưới, được hình thành từ trước. EnderPhantom còn dựng thêm một trại nuôi gà nhỏ gần nhà. Ở hành tinh có rất ít người sinh sống, tiếng động và công việc của một đàn gà cho thấy nơi đây không chỉ là điểm trú chân được sử dụng đôi ba lần. Anh chủ yếu đi lại một mình, nhưng vẫn có những chuyến qua lại với Địa Tinh, không hoàn toàn cắt đứt liên hệ với các tuyến di chuyển chung.
NTranJR để lại một công trình khác trên Thiên Tinh: một ngôi đền nhỏ giữa khu rừng nhiệt đới. Không có ghi chép xác định tên gọi, mục đích xây dựng hay tín ngưỡng gắn với công trình ấy. Ở thời điểm này, nó chỉ là dấu vết của một cá nhân trong giai đoạn khai phá ban đầu; khu vực chung quanh chưa phải phần ngoại ô của Kaxilo như ở những năm về sau. Trong những bản đồ chưa được hoàn thiện, những dấu mốc ít ỏi như căn nhà của EnderPhantom hay ngôi đền giữa rừng cho thấy việc có người đi tới một nơi khác với việc nơi ấy đã trở thành vùng định cư rộng lớn.
Mưa bão trên Thiên Tinh còn đi kèm mối nguy đáng sợ hơn thời tiết. Những sinh vật dạng ngựa xương xuất hiện thường xuyên với mật độ và mức độ hung hãn bất thường, đặc biệt trong các đợt mưa lớn. Ở Địa Tinh, gặp ngựa xương là chuyện đủ hiếm để người ta kể lại như một giai thoại; tại Thiên Tinh, người bám trụ phải tính đến khả năng chạm mặt trong những chuyến đi thường ngày. Không phải mọi cuộc chạm trán đều được ghi thành một sự kiện riêng, nhưng việc chúng xuất hiện lặp lại đã khiến những người có mặt ở đây phải thận trọng mỗi lần thời tiết chuyển xấu.
Một nhóm vừa hoàn tất khảo sát có thể nhìn bầu trời tối đi và quyết định sớm quay lại tuyến tiếp cận, thay vì tiếp tục tiến sâu chỉ để lấy thêm ít dữ liệu. Người ở lâu hơn phải tính đến nơi trú, quãng đường về và những nguy cơ có thể gặp nếu mưa kéo dài. Tin tức về điều kiện khắc nghiệt của hành tinh vì thế không chỉ nằm trong báo cáo chuyên môn; nó dần trở thành kinh nghiệm thực tế được nhắc lại cho người định tới sau. Thiên Tinh vẫn có thể được khai phá khi chuẩn bị đủ kỹ, nhưng hiển nhiên không phù hợp với cách tiếp cận vội vàng.
Có những chuyến thăm dò không nằm trong phạm vi thông tin công khai. Trong các hồ sơ riêng của NFF, NiFoFo nhiều lần tiếp cận Thiên Tinh để theo dõi những dấu hiệu cần chú ý. Tần suất mưa bão cao cùng sự lặp lại của ngựa xương khiến hành tinh được đánh dấu là khu vực nên tiếp tục quan sát; các đánh giá nội bộ không chỉ xem đây là câu chuyện thời tiết bất lợi thông thường. Tuy vậy, những nhận định ấy vẫn thuộc lớp thông tin kín của NFF. Đối với phần lớn cư dân và các nhóm thám hiểm khác, những gì họ có thể xác nhận chỉ là môi trường khó sinh sống, lối tiếp cận nhiều nguy cơ và các sinh vật nguy hiểm xuất hiện với tần suất không giống Địa Tinh. Chưa có lời giải công khai nào về nguồn gốc của hiện tượng.
Những hoạt động ấy diễn ra song song với quá trình định cư đang tiếp tục trên Địa Tinh. Hai hành tinh phát triển theo hai nhịp khác nhau: trên Địa Tinh, đường sá bắt đầu nối giữa những khu cư trú, nông trại và các điểm khai thác; ngày càng nhiều người có thể trở lại một căn nhà, một kho hoặc một công việc đang chờ mình. Trên Thiên Tinh, vài công trình rải rác tồn tại giữa thời tiết khắc nghiệt, trong khi những chuyến khảo sát vẫn tìm cách hiểu thêm về vùng đất mới. Một bên trở thành nơi nhân loại dồn sức gây dựng đời sống, bên còn lại vẫn là biên giới của những cuộc tìm kiếm đầy thận trọng.
Cuối những tuần khai phá đầu tiên, Địa Tinh đã có nhiều hơn những căn nhà riêng lẻ. Lối mòn được dùng thường xuyên hơn thành đường đi; vật tư khai thác từ mỏ được chuyển tới các điểm xây dựng, sản phẩm nông trại đi vào giao thương và GEM giúp những người không có thứ đối phương cần vẫn có thể trao đổi qua một hệ giá trị chung. Các cộng đồng bắt đầu biết nhau bằng vị trí, nguồn hàng hoặc công việc. Nhưng càng nhiều thứ được dựng lên, quyền lợi giữa các nhóm càng đan xen, và những tranh chấp không còn chỉ là ai cắm mốc trước trên một khoảnh đất.
Có trường hợp một tuyến vận chuyển mới được mở đi qua vùng mà nhóm khác cho là thuộc phạm vi hoạt động của mình. Ở nơi khác, nguồn tài nguyên khiến người tới sau muốn khai thác gần một công trình đã được dựng từ trước. Những vụ cướp bóc và chiếm đoạt cũng chưa chấm dứt. Quy tắc sở hữu tạm thời do GUIDER đưa ra có thể kiểm tra công trình, đối chiếu hoạt động sinh sống hay xác định một yêu sách vô lý, nhưng không đủ bao quát những quan hệ đang hình thành giữa các cộng đồng. Càng cố giải quyết từng vụ riêng lẻ, người ta càng thấy rõ sự thiếu vắng của một khuôn khổ được nhiều bên cùng thừa nhận.
GUIDER vì vậy triệu tập đại diện các phe phái lớn nhỏ để chuẩn hóa một bộ luật chung. Những cuộc trao đổi phải đi qua các vấn đề thực tế: điều gì được công nhận là quyền sở hữu; trong trường hợp nào một bên có thể yêu cầu phân xử; lực lượng bảo vệ riêng của các cộng đồng được phép làm gì; khi có người vi phạm, GUIDER cần căn cứ ra sao trước khi cưỡng chế. Những tổ chức lớn không dễ từ bỏ quyền tự quyết mà họ đã quen giữ suốt thời kỳ lưu vong. Các cộng đồng nhỏ lại cần biết bộ luật có bảo vệ được mình khi đối diện với phe đông người hơn hay không.
Căn Cứ ủng hộ việc hình thành trật tự chung vì sự ổn định của vùng định cư liên quan trực tiếp tới khả năng tiếp nhận thêm cư dân và phát triển lâu dài. Nhưng trách nhiệm xây dựng, áp dụng và giám sát việc thực thi pháp luật thuộc GUIDER. Căn Cứ không phải cấp trên trực tiếp của GUIDER, và GUIDER cũng không có quyền biến phần hậu cần hoặc hoạt động của dự án Người 2.0 thành công cụ do mình tùy ý điều khiển. Hai bên giữ vai trò khác nhau, được các cộng đồng tôn trọng nhờ đóng góp thực tế, đồng thời phải chấp nhận những giới hạn khi quyết định của mình tác động tới đời sống chung.
Trong quá trình thảo luận, một điểm trở nên khó né tránh: nhân loại đã rời khỏi Địa Cầu sau một thời kỳ mà xung đột và tranh đoạt góp phần phá hủy nền móng văn minh cũ. Không ai muốn mang nguyên cách giải quyết bằng sức mạnh tuyệt đối tới vùng đất mới. Những nguyên tắc được thống nhất vì vậy không chỉ để trừng phạt hành vi vi phạm. Chúng đặt ra giới hạn đối với phá hoại vô cớ, tấn công người khác vì tư lợi và chiếm đoạt bằng bạo lực; đồng thời tạo cơ chế để người bị xâm phạm có thể tìm sự bảo vệ mà không buộc phải tự mình đáp trả bằng vũ lực.
Các phe phái chấp thuận việc giao nộp thành viên khi có bằng chứng vi phạm theo quy định chung. Đổi lại, GUIDER chỉ có thể dùng biện pháp cưỡng chế trên cơ sở rõ ràng và phải chấp nhận bị chất vấn công khai. Căn Cứ cũng không được lấy quyền tiếp cận Người 2.0, nguồn dữ liệu hoặc hậu cần sinh tồn để ép các cộng đồng phục tùng những quyết định nằm ngoài phạm vi cần thiết. Sự thống nhất không xóa bỏ tính tự chủ của các bên, mà yêu cầu mỗi bên chấp nhận một ranh giới: quyền lợi của mình không thể mặc nhiên đứng trên quyền sống của những người khác.
Bộ luật bắt đầu được thực thi giữa lúc hoạt động định cư vẫn tiếp diễn. Người ta tiếp tục sửa đường, xây nhà và xuống mỏ; GUIDER vẫn phải điều tra những vụ mới, còn các điểm sản xuất vẫn có ngày thiếu nguyên liệu hoặc nhân lực. Không có phép màu nào khiến mọi bất đồng biến mất chỉ vì một cuộc họp đã kết thúc. Nhưng từ đây, khi tranh chấp nảy sinh, xã hội mới đã có một khuôn khổ chung để viện dẫn thay vì mặc nhiên để phe mạnh nhất quyết định kết quả.
Thời gian trôi qua trong chính nhịp lao động ấy. Những ngày đầu bãi đáp chỉ có nơi tập kết tạm, rồi người ta bắt đầu nhận ra các con đường quen, những kho hàng đã mở rộng, những điểm có thể tìm được người giúp hoặc trao đổi vật tư. Ở thung lũng của Huybeokute, nông trại tiếp tục được chăm sóc và hoàn thiện từng hạng mục. Tại Làng Cáo, công việc tái định cư, kho vận và thử nghiệm hệ thống sản xuất vẫn còn nhiều phần phải làm. Những cư dân trong dãy nhà đá lại xây thêm một gian khi có nhu cầu; ở những nơi khác, một con đường mới có thể dẫn tới căn nhà của người hôm trước còn đang sống ở khu tập kết.
Khoảng ba tháng đầu của thời kỳ tiếp nhận Người 2.0 và công cuộc khai phá dần khép lại. Địa Tinh Giới chưa phải một quê hương hoàn chỉnh. Nhiều ngôi nhà vẫn sơ sài, đường chỉ nối được một số điểm chính, các hệ thống sản xuất chưa có quy mô và khả năng vận hành của những năm về sau. Thiên Tinh Giới đã có người tiếp cận nhưng vẫn còn nhiều điều chưa biết. Nhân loại không trở nên thống nhất hoàn toàn; những cộng đồng khác nhau vẫn có lợi ích, thói quen và cách sống riêng. Điều họ đạt được sau những tháng đầu tiên khiêm tốn hơn một tuyên bố chiến thắng, nhưng cũng thiết thực hơn: đã có nền móng để tiếp tục ở lại.
Một buổi chiều, tại một điểm cư trú trên Địa Tinh, người vừa kết thúc công việc mang dụng cụ trở về nhà. Xa hơn một chút, có người vẫn đang sửa phần mái chưa ổn, trong khi một nhóm khác chuẩn bị vật tư cho chuyến khai thác hôm sau. Chàng trai Người 2.0 từng đứng nhìn tàu qua cửa kính Căn Cứ nay đã quen với lối đi từ nơi ở tới điểm tập kết, quen cảm giác đất dưới chân thay đổi sau mưa và bắt đầu có những nơi muốn ghé lại mà không cần ai dẫn đường. Anh vẫn chưa phải quyết định ngay toàn bộ tương lai mình sẽ sống ra sao. Nhưng đây đã là một vùng đất mà anh có thể tạo ra ký ức của chính mình.
Với nhiều người thuộc các phái đoàn cũ, niềm vui cũng không nhất thiết thể hiện bằng những câu nói lớn. Có người đang tính chuyện mở rộng kho, người muốn gia cố con đường trước mùa mưa, người tìm một vị trí thích hợp để trồng thêm thứ cây sẽ mất nhiều thời gian mới thu hoạch được. Trong hơn hai thế kỷ, con người đã dựng lên nhiều nơi cư trú rồi lại phải rời bỏ. Giờ đây, thay đổi quan trọng nằm trong những quyết định bé nhỏ ấy: một công trình được sửa không chỉ để chống đỡ qua chặng đường tiếp theo, một luống cây được gieo vì người trồng hy vọng mình vẫn sẽ ở đó khi mùa thu hoạch đến.
Địa Tinh chưa phải lời giải cho mọi vấn đề của nhân loại. Nhưng lần đầu tiên sau một thời gian rất dài, nhiều người bắt đầu lập kế hoạch cho tương lai bằng cách nhìn vào vùng đất dưới chân, thay vì chỉ nhìn tọa độ của điểm dừng tiếp theo.
Liên kết hồ sơ: [[01_tong_quan/can_cu_trung_tam|Căn Cứ Trung Tâm]] · [[03_the_luc/guider|GUIDER]] · [[07_he_thong/quan_he_giua_cac_the_luc|Quan hệ giữa các thế lực]] · [[02_chapter/chapter_02_xay_dung_gia_vien|Chapter 02 — Xây dựng gia viên]]