Xây dựng gia viên
Những nền móng đầu tiên của một quê hương mới.
1. Mở đầu
Hơn ba tháng sau khi Người 2.0 xuất hiện, Căn Cứ không còn chỉ đối mặt với câu hỏi sinh tồn ban đầu.
Nhà cửa đã bắt đầu mọc lên. Những tuyến khai thác đầu tiên được mở. Sau các cuộc khai phá, nguồn gỗ chất lượng cao dồi dào trở thành vật liệu chủ đạo, tạo nên diện mạo những công trình gỗ ít tầng lầu khắp vùng đất mới. Các cộng đồng dần học cách đứng vững trên Địa Tinh Giới, biến một vùng đất xa lạ thành nơi có thể gọi là gia viên.
Giữa lúc nền móng của đời sống mới vừa thành hình, Căn Cứ phát đi một thông báo khiến toàn bộ khu vực khai phá phải chú ý.
Không xa Địa Tinh Giới, một cánh cổng đã xuất hiện.
Nó dẫn trực tiếp tới một vùng không gian kỳ lạ, nơi các chỉ số môi trường không còn tuân theo những hiểu biết thông thường của nhân loại.
Một Dị Linh Giới.
Đây là lần thứ hai kể từ sự kiện 250523 nhân loại phải đối mặt với một dị thường thật sự. Lần này, nó không nằm trong hồ sơ cũ hay những bản ghi mật của quá khứ, mà mở ra ngay bên cạnh vùng đất nơi Người 2.0 vừa bắt đầu xây dựng tương lai.
Ban đầu, cánh cổng vẫn còn nhỏ và tương đối ổn định. Chính sự ổn định mong manh đó khiến nhiều đội thám hiểm tin rằng vùng Dị Linh Giới phía bên kia có thể được khảo sát, kiểm soát và khai thác như một vùng đất mới.
Nhưng càng đi sâu, Căn Cứ càng nhận ra rằng vùng Dị Linh Giới ấy không phải một miền đất đang chờ được khai phá.
Nó là một vết nứt đang thức tỉnh.
2. Diễn biến
Sau các cuộc khai phá ban đầu, việc tìm thấy và khai thác được một lượng lớn gỗ chất lượng cao đã tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc định cư. Phần lớn các công trình xây dựng tại Địa Tinh Giới trong giai đoạn này đều sử dụng vật liệu gỗ làm chủ đạo, mang cấu trúc ít tầng lầu nhằm thích ứng với điều kiện địa hình và đáp ứng nhu cầu mở rộng chỗ ở của các cộng đồng.
Ba tháng đầu tiên trên Địa Tinh Giới trôi qua mà không có một biến cố đủ lớn để trở thành dấu mốc lịch sử riêng biệt. Tuy vậy, chính quãng thời gian tương đối yên ổn ấy đã khiến vùng đất mới bắt đầu mang dáng vẻ của một nơi có người sinh sống lâu dài.
Những nơi trú dựng vội từ thời khai phá dần được sửa chữa và gia cố. Gỗ vẫn là vật liệu xuất hiện phổ biến nhất, vừa dễ tìm, vừa thuận tiện để xây dựng và thay thế khi cần thiết. Phần lớn công trình chưa cao và cũng chưa cầu kỳ; trong giai đoạn đầu, khả năng che mưa, giữ được vật dụng và tồn tại ổn định qua thời gian quan trọng hơn nhiều so với hình thức.
Những tuyến đường được mở từ thời kỳ khai phá cũng bắt đầu được sử dụng thường xuyên hơn. Người ta đi lại giữa các khu vực để mang vật liệu, trao đổi tài nguyên, tìm người hỗ trợ hoặc đơn giản chỉ ghé qua những nơi mình đã dần quen thuộc. Khoảng cách giữa các điểm định cư vẫn vậy, nhưng cảm giác xa cách giữa chúng bắt đầu giảm đi.
Sự thay đổi ấy trước hết hiện ra trong những việc rất nhỏ.
Một buổi sáng, khoaplaymc dựng thang lên mái căn nhà gỗ cạnh nhà mình để thay vài tấm ván đã cong và ngấm nước sau nhiều đợt mưa. Không ai nhờ từ trước, cũng chưa có chuyện trả công. Chủ căn nhà chỉ đứng phía dưới chuyền từng thanh gỗ lên, vừa làm vừa nói vài câu về thời tiết và những đoạn đường gần đây trở nên khó đi hơn sau mưa.
Đến chiều, khi công việc trên mái vừa xong, người hàng xóm ấy lại sang giúp khoaplaymc nẹp lại một khung cửa đang lệch. Không ai gọi đó là đổi công. Hai căn nhà chỉ dần quen với việc mượn nhau dụng cụ, giữ hộ vài món vật liệu và biết lúc nào nhà bên cạnh đang có người.
Một người lớn tuổi từng trải qua nhiều năm phiêu bạt giữa các trạm trú đi ngang, nhìn phần cột mới dựng rồi dừng lại chỉ cách gia cố cho chắc hơn. Ông không ở lại lâu; nói xong những điều cần nói, ông tiếp tục công việc của mình, như thể truyền lại một kinh nghiệm xây dựng đơn giản đã trở thành thói quen từ rất lâu.
Khi trời tối, mùi thức ăn từ bếp chung cuối dãy nhà bắt đầu lan ra ngoài. Amogus đang thử nấu một nồi hầm từ những nguyên liệu có sẵn. Những người ghé qua đều thống nhất rằng món đó ít nhất có thể ăn được, dù chẳng ai thật sự biết nên gọi nó là gì. Cuối cùng, vài người mang bát ngồi lại lâu hơn thường lệ.
Đối với phần lớn Người 2.0, đây là lần đầu tiên cuộc sống không còn chỉ xoay quanh Căn Cứ và những nhu cầu sinh tồn trước mắt. Một căn phòng riêng, một chỗ ngủ cố định, vài vật dụng được giữ lại sau nhiều tuần, hay một con đường đã đủ quen để nhận ra đều dần trở thành những điều bình thường.
Trong cùng khoảng thời gian, dấu hiệu rõ nhất cho thấy khoi07102011 đã bắt đầu sống ở Địa Tinh Giới không nằm ở căn phòng, mà ở một cái kệ nhỏ.
Suốt nhiều tuần, chỗ ngủ của khoi07102011 vẫn giống một nơi tạm dừng hơn là chỗ ở. Những vật cần thiết luôn nằm sẵn trong túi, được sắp theo cách chỉ cần vài phút là có thể mang đi. Thói quen ấy từng rất tiện trong thời kỳ khai phá, khi chưa ai biết mình sẽ ở lại một địa điểm bao lâu.
Rồi một ngày, khoi07102011 đóng một tấm ván lên tường. Trên đó chỉ có vài món nhỏ giữ lại từ những lần đi trước: một mảnh đá có hình dạng lạ, một cuộn dây còn dư và một vật đã gần như không còn công dụng nhưng vẫn chưa muốn vứt đi. Tấm ván hơi lệch, phải chèn thêm một mẩu gỗ mới đứng vững.
Căn phòng vẫn đơn sơ như cũ. Nhưng tối hôm ấy, khoi07102011 mở túi ra mà không thu dọn mọi thứ trở lại ngay trước khi ngủ.
Căn Cứ vẫn là nơi thế hệ mới bắt đầu hành trình.
Nhưng Địa Tinh Giới đang từng bước trở thành nơi họ thật sự sống.
Và chính khi cảm giác ấy vừa bắt đầu hình thành, một biến cố mới xuất hiện ngay sát vùng định cư.
Trong những ngày đầu, cánh cổng không biểu hiện bất kỳ dấu hiệu bùng phát rõ ràng nào.
Không có sinh vật lập tức tràn ra.
Không xảy ra một đợt biến động đủ lớn để buộc toàn bộ khu vực phải sơ tán.
Nó chỉ tồn tại ở đó, nối vùng không gian quen thuộc quanh Địa Tinh Giới với một nơi mà con người chưa hiểu được.
Chính sự yên tĩnh ấy khiến việc đánh giá nó trở nên khó khăn hơn. Nếu cánh cổng ngay từ đầu biểu hiện như một mối nguy không thể kiểm soát, lựa chọn phong tỏa sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Nhưng khi chưa có hiểm họa rõ ràng xuất hiện, khả năng khảo sát phía bên kia nhanh chóng trở thành một vấn đề khó bỏ qua.
Tin tức về cánh cổng lan ra trong các khu định cư. Một số người chỉ tò mò muốn nhìn thấy nó từ xa. Những người khác bắt đầu đặt câu hỏi về nơi mà nó dẫn tới và liệu phía bên kia có tồn tại thứ gì hữu ích cho quá trình định cư hay không.
Sau hàng thế kỷ nhân loại phải tự tìm kiếm từng nơi trú chân giữa không gian, một con đường tới một vùng hoàn toàn khác xuất hiện ngay cạnh nơi định cư mới gần như chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý.
Tin về cánh cổng lan ra nhanh hơn bản thông báo chính thức.
Trước khi văn bản của Căn Cứ được dán ở nơi cư dân vẫn thường dừng lại đọc tin, trong các dãy nhà đã xuất hiện nhiều phiên bản khác nhau. Có người nói cánh cổng rộng ngang cả một công trình lớn. Người khác lại quả quyết rằng nó chỉ là một vết nứt cao hơn đầu người một chút. Một lời đồn khác cho rằng hiện tượng ấy sẽ tự biến mất sau vài ngày.
Không ai có bằng chứng cho những điều đó.
Dù vậy, người ta vẫn kéo nhau tới những vị trí có thể nhìn từ xa. Họ đứng thành từng nhóm nhỏ trên các sườn đất cao, chỉ trỏ và trao đổi bằng giọng thấp, phần vì tò mò, phần vì chưa biết nên coi thứ trước mắt là cơ hội hay hiểm họa.
Tối hôm ấy, thanhhoa121006 đứng khá lâu trước bản thông báo vừa được dán. Người này đọc hết phần quy định về những chuyến khảo sát có giới hạn, dừng lại ở các dòng nhắc tới ngưỡng cảnh báo rồi đọc lại từ đầu.
Không có dòng nào khẳng định cánh cổng an toàn. Cũng không có dòng nào kết luận nó chắc chắn nguy hiểm.
Chính khoảng trống giữa hai điều ấy khiến thanhhoa121006 đứng lại lâu hơn dự định. Khi quay về, người này kể lại nội dung thông báo cho những người chưa kịp đọc, giữ nguyên các ý về giới hạn khảo sát và ngưỡng cảnh báo; còn những lời đồn về kích thước hay thời gian tồn tại của cánh cổng vẫn chỉ được nhắc lại như lời đồn.
Tuy nhiên, sự tò mò không làm thay đổi một thực tế đơn giản:
Không ai biết điều gì đang chờ ở phía bên kia.
Câu hỏi vì thế không còn là con người có muốn bước qua cánh cổng hay không.
Mà là họ sẵn sàng chấp nhận bao nhiêu rủi ro để tìm hiểu nó.
Song song với quá trình kiến thiết gia viên, một biến cố lớn bất ngờ xuất hiện ngay sát vùng định cư. Ngay từ đầu đã có ý kiến đề nghị phong tỏa cánh cổng trước khi bất kỳ ai bước qua. Làm vậy sẽ giảm rủi ro trước mắt, nhưng cũng đồng nghĩa bỏ mặc một dị thường nằm sát vùng định cư khi chưa ai biết nó có tiếp tục mở rộng hay không. Thám hiểm có thể đem về dữ liệu và tài nguyên, song cũng có thể kéo theo những hiểm họa chưa thể dự đoán từ phía bên kia.
Cuối cùng, Căn Cứ cho phép những chuyến khảo sát có giới hạn và yêu cầu mọi hoạt động phải dừng khi chỉ số không gian vượt ngưỡng cảnh báo. Dị Linh Giới chưa hề được xem là an toàn. Căn Cứ chỉ chấp nhận một mức nguy cơ có kiểm soát để không phải bỏ mặc một dị thường ngay bên vùng định cư trong tình trạng hoàn toàn chưa được hiểu rõ.
Các đội đầu tiên bước vào Dị Linh Giới trong tâm thế thận trọng. Phía sau cánh cổng là một vùng không gian có bầu khí quyển khác thường, địa hình hoang tàn và nhiều dấu hiệu dị thường chưa được phân loại. Dù vậy, hoạt động thám hiểm khi ấy vẫn mang tính tự phát: các nhóm thiếu phối hợp, chưa có tuyến tiếp tế ổn định và cũng chưa có cơ chế điều phối đủ mạnh để ứng phó với mọi biến cố.
Những chuyến thám hiểm đầu tiên nhìn chung diễn ra thuận lợi hơn những gì nhiều người từng lo ngại khi cánh cổng mới xuất hiện.
Các nhóm hoạt động gần vùng rìa chưa gặp phải một mối đe dọa nào đủ để khiến toàn bộ chiến dịch phải dừng lại. Trang bị mang theo vẫn đáp ứng tốt phần lớn tình huống, còn những người từng có kinh nghiệm chiến đấu hoặc thám hiểm nhanh chóng thích nghi với địa hình xa lạ.
Điều khiến các đoàn gặp rắc rối trong giai đoạn đầu không hẳn là sức mạnh của Dị Linh Giới.
Nó nằm ở sự chênh lệch giữa những người cùng bước vào.
Không phải ai tham gia cũng có kỹ năng tương đương nhau.
Có người quen giữ đội hình và biết khi nào nên dừng lại. Có người lại mới chỉ đủ khả năng tự bảo vệ mình trong những tình huống đơn giản.
Một vài sự cố nhỏ bắt đầu xuất hiện từ chính khoảng cách đó. Có thành viên đi lệch khỏi vị trí vì quá tập trung vào những thứ mình nhìn thấy phía trước, buộc cả đội phải dừng lại chờ tập hợp. Có người đánh giá sai khoảng cách an toàn với sinh vật, khiến những người bên cạnh phải lập tức đổi vị trí để hỗ trợ.
Ở một số chuyến đi, cả đoàn phải quay về sớm hơn dự kiến không phải vì gặp một thực thể quá mạnh, mà vì một thành viên bị thương hoặc mất quá nhiều sức sau một sai lầm hoàn toàn có thể tránh được.
Những sự cố ấy hiếm khi trở thành thảm họa.
Nhưng chúng đủ để các đoàn nhận ra rằng trong một môi trường xa lạ, năng lực của người yếu nhất trong đội đôi khi quyết định tốc độ và khoảng cách mà cả nhóm có thể đi tới.
Từ đó, việc tổ chức đội hình dần thực tế hơn. Những người có kinh nghiệm chú ý nhiều hơn tới vị trí của các thành viên ít kinh nghiệm, các tuyến rút được nhớ kỹ hơn và quyết định quay về không còn chỉ dựa vào việc người mạnh nhất trong nhóm còn đủ sức chiến đấu hay không.
Dị Linh Giới ở thời điểm này vẫn là một vùng đất có thể thám hiểm.
Nhưng nó bắt đầu buộc con người học cách đi cùng nhau thay vì chỉ dựa vào từng cá nhân mạnh.
Sau giai đoạn thám hiểm ban đầu, các phe phái và nhóm lớn bắt đầu tham gia có tổ chức hơn. Làng Cáo, Làng Huybeo, Cunhihihihi cùng tổ đội của mình, eaghtdont, Valhein2611, TheIntruder1060, Sight_GF, M_APFER, THZ_MinhMC, kingofwolf123 và nhiều cá nhân khác cùng xuất hiện trong các đợt thám hiểm quy mô lớn. Nhờ sự phối hợp tốt hơn, các đoàn thám hiểm của nhân loại bắt đầu vượt qua những khu vực rìa và tiến sâu hơn vào bên trong cánh cổng.
Phía sau những cao nguyên hoang tàn là các công trình bỏ hoang nằm rải rác, mang dáng dấp kiến trúc trung cổ nhưng vẫn có nhiều khác biệt khó giải thích. Một số đoàn thám hiểm tận dụng một trong những công trình ấy làm điểm đóng quân tạm thời. Ở nơi quái vật liên tục quấy nhiễu, bất kỳ bức tường nào còn đứng vững cũng có thể trở thành ranh giới giữa sống sót và tan rã.
Phát hiện đáng kể đầu tiên là Platinum. Chất lượng tổng thể của vật liệu này thấp hơn Netherite đôi chút, bù lại có thể thu được với số lượng lớn hơn nhiều. Giá trị thực sự của Platinum chỉ trở nên rõ khi các đoàn bắt đầu hoạt động lâu hơn bên trong Dị Linh Giới: không giống những vật liệu phải được vận chuyển từ ngoài cánh cổng, Platinum có thể được tìm thấy ngay trong khu vực mà các lực lượng đang hoạt động.
Điều đó thay đổi cách họ nhìn một món trang bị bị hư hỏng. Một bộ giáp xuống cấp không còn mặc định đồng nghĩa với việc phải mang người sử dụng nó quay về Địa Tinh Giới chỉ để thay thế hoặc sửa chữa.
Khi đã có đủ Platinum trong tay, những phần hư hỏng có thể được xử lý ngay tại các điểm đóng quân hoặc trong những khoảng nghỉ giữa chiến dịch, miễn là còn đủ dụng cụ và thời gian. Có những nhóm mang trang bị trở về trong tình trạng đã bị phá hỏng qua nhiều lần giao chiến, sửa lại bằng lượng Platinum vừa khai thác được rồi tiếp tục lên đường trong đợt sau.
Chất lượng của Platinum vẫn không khiến Netherite trở nên vô giá trị. Nhưng trong một chiến dịch dài, khả năng lấy nguyên liệu ngay tại nơi đang chiến đấu đôi khi quan trọng không kém việc một vật liệu mạnh hơn bao nhiêu trên lý thuyết.
Từ đó, Platinum trở thành một phần của chính vòng vận hành chiến dịch:
đi sâu → khai thác → mang về điểm đóng quân → sửa chữa → tiếp tục đi sâu.
Nhân loại lần đầu có một nguồn vật liệu ngay bên trong Dị Linh Giới đủ phổ biến để giúp chiến dịch tự duy trì lâu hơn.
Khi hoạt động tại Dị Linh Giới dần đi vào trật tự, Tiến sĩ Mamoru cũng có mặt để nghiên cứu các điểm bất thường. Từ đây, Căn Cứ không còn xem nơi này đơn thuần là một khu vực khai thác tài nguyên, mà là một dị thường cần được khảo sát nghiêm túc ở cả cấp khoa học lẫn an ninh.
Càng tiến sâu, các đoàn thám hiểm càng bắt gặp nhiều trụ biến dị mọc rải rác. Từ đó xuất hiện những zombie đột biến bị nhiễm chorus, hiện diện gần như khắp Dị Linh Giới.
Thoạt nhìn, phần lớn chúng không tạo ra cảm giác quá khác biệt so với những sinh vật hình người mà nhân loại từng đối phó. Một số di chuyển chậm, liên tục ép về phía trước và có thể bị đẩy lùi nếu đội hình giữ được vị trí.
Tuy nhiên, các cuộc chạm trán nhanh chóng cho thấy không phải cá thể nào cũng hành động giống nhau.
Xen giữa số đông chậm chạp là những biến thể có tốc độ cao hơn hẳn, đủ khả năng áp sát trước khi lực lượng phía sau kịp điều chỉnh đội hình. Một số cá thể phát triển cơ thể lớn bất thường và lao thẳng vào tuyến phòng thủ, không cần kỹ thuật phức tạp nhưng vẫn có thể tạo ra khoảng trống nếu cú va chạm đủ mạnh.
Những biến thể khác lại khiến việc giữ khoảng cách không còn bảo đảm an toàn. Có loại có thể tấn công từ tầm trung bằng chất độc, có loại phóng những gai biến tính về phía mục tiêu, trong khi một số cá thể có khả năng vượt qua vật cản và xuất hiện ở vị trí mà đội hình không chờ đợi.
Không phải mọi cuộc giao tranh đều xuất hiện tất cả những dạng đó.
Chính sự không đồng nhất ấy mới khiến chúng trở nên khó đối phó.
Một đội hình được chuẩn bị để chống lại số đông chậm chạp có thể nhanh chóng rối loạn khi vài cá thể tốc độ cao chen vào. Một vị trí phòng thủ tưởng như thuận lợi có thể mất hiệu quả nếu sinh vật vượt qua được vật cản. Khoảng cách từng được xem là an toàn cũng không còn chắc chắn khi xuất hiện những biến thể có khả năng tấn công từ xa.
Một đội thám hiểm đã nhận ra điều đó trong một lần giữ vị trí bên cạnh dãy tường đổ.
Phần lớn sinh vật trước mặt vẫn là những zombie bị nhiễm chorus di chuyển chậm, liên tục ép về phía trước theo cách đội hình đã gặp nhiều lần. Hàng đầu giữ khoảng cách, những người phía sau chuẩn bị thay vị trí khi cần, và trong vài phút đầu, mọi thứ vẫn diễn ra gần như đúng với kinh nghiệm trước đó.
Rồi một cá thể tốc độ bất ngờ lao ra khỏi số đông, thu hẹp khoảng cách nhanh hơn những người phía trước kịp điều chỉnh. Chỉ vài người phải xoay sang xử lý hướng đó cũng đủ khiến đội hình xuất hiện khoảng trống.
Gần như cùng lúc, một cá thể khác bật qua phần tường đổ và xuất hiện phía sau vị trí mà đội hình đang tập trung phòng thủ. Nó không đủ sức tự mình phá vỡ toàn bộ đội hình, nhưng buộc thêm người phải rời chỗ để đối phó.
Từng thay đổi riêng lẻ đều không quá lớn.
Vấn đề là chúng không xảy ra riêng lẻ.
Khi một luồng độc từ tầm trung phun tới hàng đầu, đội hình bắt đầu lùi khỏi vị trí thay vì tiếp tục cố giữ dãy tường. Cuộc rút lui vẫn theo tuyến đã được đánh dấu từ trước, nhưng chậm hơn dự tính vì mọi người phải liên tục quay lại kiểm tra những hướng có thể bị áp sát.
Chỉ sau khi thoát khỏi khu vực giao tranh, cả đội mới có thời gian nhìn lại những gì vừa xảy ra.
Chính việc nhiều kiểu hành vi khác nhau liên tục chen vào cùng một cuộc chạm trán mới khiến đội hình từng được xem là ổn định nhanh chóng mất đi nhịp ban đầu.
Từng cá thể riêng lẻ vẫn không phải một mối đe dọa vượt quá khả năng của lực lượng có kinh nghiệm.
Nhưng khi nhiều kiểu hành vi khác nhau xuất hiện giữa một đàn sinh vật áp đảo về số lượng, các đoàn thám hiểm gần như không bao giờ có thể chắc chắn rằng cuộc giao tranh tiếp theo sẽ diễn ra giống cuộc trước.
Dị Linh Giới không cần một sinh vật duy nhất đủ mạnh để nghiền nát họ.
Chỉ cần khiến họ liên tục phải thích nghi cho tới khi không còn đủ sức để tiếp tục.
Trong một đợt tiến sâu, các đội thám hiểm và Căn Cứ mất liên lạc với Mamoru. Một cuộc tìm kiếm toàn lực có thể kéo đội hình khỏi tuyến tiếp tế và khiến nhiều nhóm khác mắc kẹt; rút lui ngay lại đồng nghĩa bỏ ông ở lại khi chưa rõ sống chết.
Không có tín hiệu đủ rõ để xác định vị trí của ông, nhưng cũng không có bằng chứng cho thấy Mamoru đã chết.
Sự thiếu chắc chắn ấy khiến tình hình khó xử hơn một trường hợp có kết quả rõ ràng.
Mỗi đoàn quay trở lại đều được hỏi về những gì họ nhìn thấy trên đường. Những dấu vết có thể liên quan tới Mamoru được kiểm tra khi điều kiện cho phép, nhưng Dị Linh Giới quá rộng và các tuyến thám hiểm vẫn liên tục chịu áp lực từ sinh vật xung quanh.
Chiến dịch không thể dừng hoàn toàn để tìm một người.
Nhưng cũng chưa ai sẵn sàng coi ông là người đã mất.
Theo thời gian, việc tìm kiếm Mamoru trở thành một phần nằm xen giữa những nhiệm vụ vốn đã tồn tại: tiến sâu khi có thể, giữ đường rút, mang người bị thương trở về và chú ý tới bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy ông từng đi qua.
Sự vắng mặt kéo dài nhiều tuần khiến câu hỏi không còn chỉ là ông đang ở đâu.
Mà là bằng cách nào một người có thể tiếp tục tồn tại một mình trong một nơi đã buộc cả những đoàn đông người phải rút lui.
Sau khi Mamoru mất liên lạc, bếp chung cuối dãy nhà bắt đầu đông hơn vào những giờ muộn.
Không có quy định nào biến nơi đó thành chỗ chờ tin. Chỉ là các đoàn từ Dị Linh Giới thường trở về vào những thời điểm khác nhau, còn những câu chuyện truyền miệng từ người vừa trở lại thường nhanh chóng lan tới đây. Người ta ghé qua để ăn một chút, hỏi thăm tình hình rồi ở lại lâu hơn bình thường.
Amogus giữ lửa qua nhiều đêm, thường nấu dư thêm vài phần cho những người có thể trở về muộn. Người này không hỏi quá nhiều. Khi có đoàn vừa ra khỏi cánh cổng, một vài người đang ngồi quanh bếp vẫn hỏi có tin gì về Mamoru hay không; phần lớn câu trả lời chỉ là chưa có gì mới.
Có đêm nồi hầm để nguội vì mọi người mải nghe một đoàn vừa trở lại kể về tuyến đường họ đã đi. Amogus lại nhóm lửa, hâm phần còn lại rồi đặt riêng một bát ở góc bàn cho người về sau cùng.
Sáng hôm sau, chiếc bát thường đã trống.
Ở phía bên kia cánh cổng, các đội vì thế phải chia nhiệm vụ. Phần lớn tiếp tục giữ tuyến đường chung; những nhóm đủ khả năng cơ động để lại tín hiệu, vật tư và dấu mốc tại các vị trí Mamoru có thể đi qua. Phương án này không bảo đảm tìm được ông, nhưng cho phép họ tiếp tục bảo vệ số đông mà chưa phải từ bỏ người mất tích.
Sau một thời gian, các đội thám hiểm phát hiện một số rất ít sinh vật đột biến cấp cao để lại loại vật liệu mới mang tên Spirit Relic. Ban đầu, không ai hiểu rõ bản chất của nó. Giá trị của Spirit Relic chỉ thật sự bùng lên khi có người tìm ra cách dùng nó để biến đổi trang bị Platinum thành trang bị Spirit.
Những món Spirit đầu tiên không cần nhiều thời gian để chứng minh giá trị. Khác biệt dễ nhận thấy nhất là độ bền. Những vũ khí Platinum thông thường phải được kiểm tra và sửa chữa thường xuyên sau các đợt giao tranh kéo dài, trong khi các món đã được biến đổi bằng Spirit Relic giữ trạng thái ổn định lâu hơn rõ rệt.
Nhưng độ bền không phải khác biệt duy nhất. Khi được mang vào thực chiến, vũ khí Spirit cho thấy hiệu quả đối phó với sinh vật Dị Linh tốt hơn những trang bị mà các đoàn đang sử dụng trước đó. Những đòn đánh vốn cần nhiều lần mới đủ để hạ một số mục tiêu trở nên hiệu quả hơn. Người sử dụng cũng ít phải ngắt nhịp chiến đấu chỉ vì trang bị bắt đầu xuống cấp.
Trong những trận giao tranh kéo dài, sự khác biệt tích tụ rất nhanh. Một người với vũ khí Spirit không trở thành chiến binh bất khả chiến bại. Nhưng khi hai nhóm phải hoạt động trong cùng một khu vực và đối mặt với số lượng sinh vật tương tự, nhóm có nhiều trang bị Spirit thường giữ được khả năng chiến đấu ổn định lâu hơn.
Chỉ sau một số chuyến đi, điều đó đã đủ rõ để những lực lượng khác nhận ra.
Ban đầu, Spirit Relic quá hiếm để có thể thay đổi toàn bộ lực lượng thám hiểm. Nhưng nó không còn là một vật liệu hiếm chỉ có giá trị vì độ khó thu thập. Nó trực tiếp giúp người sở hữu chiến đấu tốt hơn và giữ trang bị hoạt động lâu hơn.
Và chính từ đó, giá trị của nó bắt đầu tăng nhanh vượt khỏi phạm vi một phát hiện kỹ thuật đơn thuần.
Từ đây, các đội tinh nhuệ bắt đầu được trang bị giáp và vật dụng Spirit. Làng Cáo là một trong những lực lượng nổi bật nhất trong giai đoạn này. Bằng cách huy động nhân lực và thực hiện các đợt càn quét diện rộng với lượng vật tư tiêu hao cực lớn, họ nhanh chóng thu được một lượng Spirit đáng kể. Quy mô tiêu hao mà Làng Cáo chấp nhận khiến nhiều bên khác bất ngờ, đồng thời cho thấy sự khác biệt giữa một cộng đồng có nền hậu cần lâu đời và các nhóm thám hiểm nhỏ lẻ.
Spirit Relic sớm tạo ra một nghịch lý. Mỗi mảnh vật liệu giúp những chuyến đi sau an toàn hơn, nhưng giá trị ấy cũng khiến ngày càng nhiều người không muốn rời Dị Linh Giới. Thứ được dùng để chống lại mối nguy dần trở thành lý do để con người tiếp tục ở lại bên cạnh nó.
Khoảng cách trang bị vì thế ngày càng lớn. Những đội đã có Spirit có thể tiến sâu và thu được thêm Spirit, trong khi các nhóm nhỏ phải ở lại tuyến ngoài hoặc phụ thuộc vào sự bảo vệ của lực lượng khác. Từ đây, việc đóng cổng không còn chỉ là quyết định quân sự, mà còn là quyết định chấm dứt một nguồn tài nguyên đang làm thay đổi cán cân quyền lực.
Nguồn dược phẩm mà Ch1zet và Cunhihihihi sử dụng trong giai đoạn này không hoàn toàn đến từ những kho dự trữ có sẵn.
Trong một giai đoạn thiếu thốn liên quan tới nhu cầu sinh tồn của lực lượng đang hoạt động, cả hai từng trực tiếp phối hợp tìm thuốc theo cách rất thực địa: tận dụng những gì có thể tìm được, tự kiểm tra nguồn cung và mang về những thứ còn sử dụng được thay vì chờ một hệ thống tiếp tế hoàn chỉnh giải quyết mọi nhu cầu.
Sự việc không trở thành một chiến dịch lớn và cũng không tạo ra một bước ngoặt riêng trong toàn bộ cuộc thám hiểm. Nó chỉ là một trong nhiều công việc nhỏ mà những người có khả năng cơ động phải tự xử lý khi lượng dược phẩm tiêu hao nhanh hơn dự tính.
Nhưng với Ch1zet và Cunhihihihi, kinh nghiệm đó khiến cả hai đặc biệt chú ý tới việc chuẩn bị thuốc trước những lần phải chiến đấu kéo dài.
Bên cạnh các lực lượng có tổ chức, Ch1zet và Cunhihihihi nổi lên với cách chiến đấu khác hẳn số đông. Nhờ chuẩn bị một lượng lớn dược phẩm phục hồi kéo dài, thuốc trị thương tức thời và các loại dược phẩm tăng cường năng lực, mỗi người gần như có thể đơn độc cầm cự trước nhiều đợt sinh vật. Cách đánh này không thể áp dụng cho toàn bộ lực lượng, nhưng đủ để tạo ra khác biệt rõ rệt vào những thời điểm phòng tuyến chịu áp lực lớn.
Vài tuần sau khi mất tích, Tiến sĩ Mamoru bất ngờ xuất hiện trở lại và thông báo cho các đoàn thám hiểm về một vị trí tương đối an toàn. Những gì đã xảy ra với ông trong thời gian mất liên lạc, cũng như cách ông có thể xuất hiện trở lại, vẫn là một bí ẩn chưa được giải đáp trong giai đoạn này. Hồ sơ Chapter 02 chỉ xác nhận rằng Mamoru đã sinh tồn trong Dị Linh Giới và tìm được một khu vực có thể phòng thủ; phần còn lại của sự việc chỉ được làm sáng tỏ vào một thời điểm rất lâu sau đó. Khi thông tin được truyền đi, các đoàn thám hiểm nhanh chóng tập trung về vị trí ông chỉ dẫn.
Khu vực này giống một pháo đài bỏ hoang, có tường thành cao ở bốn phía. Trước số lượng áp đảo của những zombie bị nhiễm chorus, các đoàn thám hiểm chọn pháo đài làm nơi phòng thủ và nhanh chóng biến nó thành điểm đóng quân vững chắc nhất của nhân loại trong Dị Linh Giới. Trong một thời gian ngắn, nơi đây trở thành trung tâm tập kết, tiếp tế, hồi phục và tổ chức lại các đợt thám hiểm sâu hơn.
Việc có một bức tường bao quanh không khiến cuộc sống bên trong trở nên dễ dàng, nhưng lần đầu tiên các đoàn thám hiểm có một nơi mà họ không phải liên tục chuẩn bị rút lui ngay khi dừng chân.
Những phần có thể sử dụng được của công trình nhanh chóng được tận dụng. Các khu vực hư hỏng được che chắn ở mức cần thiết, vật tư được tập trung lại và những người vừa quay về từ các chuyến đi sâu có thể nghỉ trước khi tiếp tục hoạt động.
Nhịp sống trong pháo đài dần hình thành quanh những lần người ta rời đi và quay trở lại.
Có những nhóm trở về với vật liệu mới.
Có những nhóm chỉ mang về được trang bị đã hư hỏng và những người cần được chăm sóc.
Cũng có những chuyến đi không thu được gì ngoài thông tin rằng một hướng nào đó chưa thể tiếp tục.
Những lực lượng vốn hoạt động tương đối độc lập bên ngoài Dị Linh Giới giờ phải cùng sử dụng một nơi trú ẩn. Trong phần lớn thời gian, nhu cầu sống sót khiến sự khác biệt giữa họ tạm thời ít quan trọng hơn việc giữ cho pháo đài tiếp tục hoạt động.
Một tháng trôi qua theo cách như vậy.
Pháo đài không trở thành một khu định cư mới.
Nó chỉ là nơi con người bám trụ đủ lâu để tiếp tục đi sâu vào một thế giới mà họ vẫn chưa hiểu.
Không phải mọi khó khăn trong khoảng thời gian ấy đều đến từ những trận chiến lớn.
Có lần một đoàn quay về muộn hơn dự kiến, khiến những người còn lại phải giữ trạng thái chờ lâu hơn bình thường vì chưa ai biết họ chỉ bị chậm đường hay đã gặp nguy hiểm. Khi nhóm cuối cùng xuất hiện, nguyên nhân hóa ra không phải một sinh vật đặc biệt hay biến cố lớn nào; họ đơn giản phải liên tục đổi hướng để tránh những khu vực có quá nhiều sinh vật tụ lại.
Ở một chuyến khác, một nhóm phải bỏ lại một phần những gì vừa thu được để đưa người bị thương trở về nhanh hơn. Không ai tranh luận nhiều về quyết định đó. Trong Dị Linh Giới, một vật liệu có thể được tìm lại vào chuyến sau; một người bị bỏ lại thì chưa chắc.
Những việc nhỏ như vậy lặp đi lặp lại, khiến kỳ vọng của các đoàn thám hiểm dần thực tế hơn. Một chuyến đi không còn được đánh giá chỉ bằng việc đã tiến được bao xa hay mang về bao nhiêu thứ. Có những ngày, việc tất cả những người đã bước ra khỏi pháo đài đều quay trở lại đã đủ được xem là kết quả tốt.
Trong khi các đoàn tiếp tục hoạt động quanh pháo đài, phía bên này cánh cổng cũng hình thành một chuỗi công việc nhỏ mà ít ai xem là đáng ghi chép.
Trong một số đợt gom vật tư, khoaplaymc cùng những người quanh dãy nhà đi hỏi xem ai còn thuốc, vải, dây, lương khô hoặc những vật dụng có thể gửi vào trong. Không phải thứ gì được mang tới cũng chắc chắn hữu ích, nhưng những món có thể dùng được đều được bó lại, ghi dấu rồi giao cho các đoàn chuẩn bị lên đường.
Đôi khi vật gửi đi chỉ là một mẩu giấy có vài dòng ngắn. Nó vẫn được đặt cùng những túi vật tư khác và chuyển đi cẩn thận như mọi món đồ còn lại.
Căn phòng của khoi07102011 lúc ấy đã đóng cửa nhiều tuần.
Không ai được giao trông nom nó. Tuy vậy, một người hàng xóm thỉnh thoảng vẫn ghé qua vào buổi sáng, mở cửa sổ cho thoáng rồi quét lớp bụi mỏng bám trên sàn. Những món nhỏ trên chiếc kệ gỗ vẫn nằm nguyên ở vị trí cũ. Người hàng xóm chỉ lau quanh chúng, không chuyển đi đâu cả.
Trong cả dãy nhà, chẳng ai nói thành lời rằng họ đang giữ căn phòng ấy để chờ chủ nhân quay lại.
Họ chỉ tiếp tục làm như vậy.
Sự quen thuộc với nhịp hoạt động quanh pháo đài đôi khi tạo ra cảm giác rằng con người cuối cùng cũng bắt đầu hiểu cách tồn tại trong Dị Linh Giới.
Cảm giác đó không kéo dài lâu.
Những dấu hiệu đầu tiên xuất hiện trước khi bất kỳ ai nhận ra toàn bộ khu vực đang tiến tới một biến đổi lớn.
Một vài tuyến đường từng được đi qua nhiều lần bắt đầu cho cảm giác khác lạ. Có đoạn mất nhiều thời gian hơn dự tính dù đoàn không thay đổi hướng đi. Có những dấu mốc quen thuộc vẫn tồn tại, nhưng khoảng cách giữa chúng dường như không còn khớp hoàn toàn với ghi nhớ của những người đã từng đi qua.
Ban đầu, phần lớn những sai lệch đó được quy cho điều kiện quan sát kém, việc ghi nhớ không chính xác hoặc đơn giản là sự khó định hướng trong một vùng đất vốn đã rất xa lạ.
Nhưng các trường hợp tương tự xuất hiện ngày càng thường xuyên.
Có những lúc tín hiệu liên lạc suy yếu rồi trở lại mà không có nguyên nhân rõ ràng. Một hướng đi từng được xem là tương đối quen thuộc có thể đột nhiên khiến đoàn thám hiểm mất nhiều thời gian hơn để quay về.
Một đoàn đi lại trên tuyến đường đã được sử dụng nhiều lần vào cuối một buổi sáng.
Không ai đổi hướng. Những dấu mốc quen thuộc vẫn xuất hiện đúng theo thứ tự mà họ nhớ. Nhưng khi tới một điểm nghỉ từng được dùng trước đó, cả đoàn đều nhận ra quãng đường vừa đi mất nhiều thời gian hơn bình thường.
Người dẫn đường dừng lại trước một khối đá đứng lẻ mà mọi người trong nhóm đều nhận ra. Từ vị trí ấy, dấu mốc kế tiếp vẫn ở đúng hướng cũ, nhưng khoảng cách giữa hai điểm cho cảm giác dài hơn những lần trước.
Người dẫn đường thử ước lượng lại quãng đường bằng số bước chân. Kết quả không đủ chắc để chứng minh điều gì: địa hình vốn gồ ghề, tốc độ di chuyển không hoàn toàn giống nhau, còn ký ức về những lần trước cũng không phải một phép đo chính xác.
Không ai kết luận con đường đã thay đổi.
Thiết bị liên lạc của đoàn sau đó im lặng trong một quãng ngắn rồi trở lại bình thường, càng khiến mọi người khó phân biệt đâu là một hiện tượng thật sự và đâu chỉ là sự trùng hợp của nhiều sai lệch nhỏ.
Cuối cùng, đoàn vẫn tiếp tục hành trình.
Nhưng từ lần đó, những dấu mốc từng được xem là quen thuộc bắt đầu được nhìn kỹ hơn trước.
Không hiện tượng nào riêng lẻ đủ nghiêm trọng để buộc toàn bộ chiến dịch phải dừng lại.
Chỉ khi chúng bắt đầu xuất hiện cùng lúc, người ta mới nhận ra Dị Linh Giới không còn giữ nguyên trạng thái như khi họ mới bước vào.
Không lâu sau, một bản thông báo mới xuất hiện ở nơi mọi người vẫn thường dừng lại đọc tin.
Lần này văn bản ngắn hơn nhiều. Chỉ có vài dòng nói rằng các đoàn hoạt động trong Dị Linh Giới đã liên tục báo cáo những sai lệch trên các tuyến đường từng được sử dụng trước đó, và các hiện tượng này đang được theo dõi.
Số người đứng trước bảng tin không nhiều hơn thường lệ, nhưng gần như ai cũng đọc lâu hơn.
Thanhhoa121006 tới từ sớm, đọc hết một lượt rồi lùi sang bên nhường chỗ. Một lúc sau, khi khoảng trống phía trước xuất hiện, người này lại bước tới đọc thêm lần nữa.
Phía sau, những người đang chờ không ai giục.
Không cần phải nói ra, họ đều hiểu rằng một tuyến đường không còn dẫn tới nơi người ta từng nghĩ nó sẽ dẫn tới là loại tin khó đọc lướt qua rồi bỏ đi.
Bản thông báo không khiến hoạt động trong Dị Linh Giới dừng lại ngay.
Trong những ngày đầu sau đó, các đoàn vẫn tiếp tục di chuyển giữa pháo đài và những khu vực đã quen thuộc. Tuy nhiên, những tuyến đường từng chỉ được ghi nhớ bằng kinh nghiệm bắt đầu được theo dõi kỹ hơn. Thời gian xuất phát, thời điểm tới từng dấu mốc và quãng đường ước tính giữa các điểm được ghi lại thay vì chỉ dựa vào trí nhớ của người dẫn đường.
Căn Cứ trước hết chọn một tuyến hậu cần đã được sử dụng nhiều lần để kiểm tra lại.
Đây không phải tuyến nguy hiểm nhất, cũng không dẫn tới khu vực sâu nhất. Chính vì đã được đi qua thường xuyên nên nó phù hợp hơn để xác định liệu những báo cáo trước đó chỉ là sai số trong quá trình di chuyển hay thực sự có điều gì đang thay đổi.
Một nhóm được cử đi theo đúng lộ trình cũ.
Họ không gặp giao tranh đáng kể. Không ai rời khỏi tuyến. Những dấu mốc quen thuộc vẫn xuất hiện theo đúng thứ tự từng được ghi nhận.
Nhưng thời gian giữa một số dấu mốc lại không còn khớp với dữ liệu cũ.
Sai lệch ban đầu chưa đủ lớn để đưa ra kết luận. Tốc độ di chuyển của con người không bao giờ hoàn toàn giống nhau, địa hình cũng có thể khiến một đoàn mất thêm thời gian mà không nhận ra. Vì vậy, Căn Cứ cho thực hiện lại việc kiểm tra thay vì lập tức coi đây là một biến đổi của chính không gian.
Lượt kiểm tra tiếp theo cho kết quả tương tự.
Lần này, sai lệch xuất hiện ở chính những đoạn từng được xem là ổn định nhất. Khoảng cách ước tính giữa các dấu mốc không còn khớp với những lần đo trước, dù hướng đi và thứ tự các điểm vẫn không thay đổi.
Một tuyến khác sau đó cũng bắt đầu xuất hiện những báo cáo tương tự.
Tới lúc này, vấn đề không còn có thể giải thích đơn giản bằng trí nhớ của người dẫn đường hay một lần di chuyển chậm hơn bình thường.
Căn Cứ vẫn chưa đưa ra kết luận về nguyên nhân.
Trong các báo cáo nội bộ, hiện tượng chỉ được ghi nhận như những sai lệch chưa xác định trên các tuyến đường đã được sử dụng ổn định trước đó.
Nhưng cách tổ chức chiến dịch bắt đầu thay đổi.
Những chuyến đi không cần thiết vào các khu vực xa pháo đài bị hạn chế. Các đoàn được yêu cầu giữ khoảng cách đủ để có thể quay về trong thời gian ngắn hơn, đồng thời báo cáo thường xuyên hơn khi vượt qua những dấu mốc quan trọng.
Một phần hoạt động khảo sát được chuyển sang kiểm tra lại những con đường cũ.
Tại pháo đài, vật tư không còn được sắp xếp hoàn toàn theo cách phục vụ cho việc bám trụ lâu dài. Thuốc, dụng cụ sửa chữa và những thứ cần thiết cho một cuộc di chuyển gấp bắt đầu được gom lại ở những vị trí dễ lấy hơn. Không có lệnh sơ tán, nhưng những người phụ trách hậu cần đã được yêu cầu tính tới khả năng phải rời khỏi nơi này nhanh hơn dự kiến.
Trong vài ngày tiếp theo, các báo cáo sai lệch không giảm đi.
Có tuyến vẫn giữ nguyên những dấu mốc quen thuộc nhưng thời gian di chuyển giữa chúng thay đổi. Có đoàn quay về chậm hơn dù không gặp chiến đấu hay phải đổi hướng. Liên lạc vốn chỉ chập chờn từng lúc cũng bắt đầu mất ổn định thường xuyên hơn trên một số khu vực.
Từng hiện tượng riêng lẻ vẫn chưa đủ để giải thích Dị Linh Giới đang xảy ra chuyện gì.
Nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng cho thấy một điều rõ ràng hơn trước:
những con đường mà con người đã mất nhiều tuần để làm quen không còn đáng tin như cũ.
Hoạt động tại pháo đài vì thế bước sang một trạng thái khác.
Các lực lượng vẫn bám trụ, nhưng việc tiến sâu không còn là ưu tiên. Người ta bắt đầu chú ý nhiều hơn tới đường rút, tới những đội còn đang ở bên ngoài và tới lượng vật tư có thể mang đi nếu tình hình tiếp tục xấu đi.
Đến khi thời gian bám trụ tại pháo đài đã xấp xỉ một tháng, những sai lệch vốn còn có thể theo dõi riêng lẻ bắt đầu tăng nhanh vượt khỏi khả năng kiểm soát.
Dị Linh Giới chuyển sang một giai đoạn biến đổi dữ dội.
Địa hình bắt đầu đổi dạng. Môi trường trở nên méo mó, còn chính cấu trúc không gian xuất hiện những dấu hiệu vặn xoắn rõ rệt. Những tuyến đường vừa mới được kiểm tra lại không còn đủ độ tin cậy để duy trì hoạt động bình thường.
Lúc này, Căn Cứ mới phát lệnh rút.
Lệnh rút khiến nhịp hoạt động tại pháo đài thay đổi gần như ngay lập tức.
Nơi từng được dùng để tập kết, tiếp tế và hồi phục trong nhiều tuần giờ chỉ còn một mục tiêu: đưa người cùng những thứ cần thiết nhất ra khỏi khu vực càng sớm càng tốt.
Những người có mặt gom thuốc, dụng cụ sửa chữa và các vật tư có thể mang theo mà không làm chậm tốc độ rút lui. Phần còn lại được để lại tại những khu vực tập kết đã sử dụng suốt thời gian đóng quân.
Không ai còn đủ thời gian để sắp xếp chúng như trong một lần di chuyển có chuẩn bị.
Trước khi rời đi, một số người kiểm tra lại những khu vực bên trong pháo đài để chắc rằng không còn ai bị bỏ lại. Có người dừng lại trong chốc lát ở cổng thành, nhìn về những bức tường đã giúp họ bám trụ suốt gần một tháng rồi mới tiếp tục theo đoàn.
Ra khỏi pháo đài, những dấu mốc quen thuộc trên tuyến rút vẫn còn đó, nhưng khoảng cách và hướng đi không còn tạo cảm giác chắc chắn như trước.
Những người đã từng đi qua con đường này nhiều lần buộc phải dựa vào trí nhớ, quan sát và từng dấu hiệu còn nhận ra được để tiếp tục tiến về phía khu vực cổng.
Không ai biết liệu họ có còn cơ hội quay lại pháo đài hay không.
Khoi07102011 trở về Địa Tinh Giới trong một đợt rút người khỏi Dị Linh Giới, trước khi kế hoạch đóng cổng bước vào giai đoạn cuối.
Khi người này đi hết con đường dẫn về dãy nhà, căn phòng vẫn ở đó như lúc rời đi. Cửa đóng, cửa sổ khép hờ, bên trong sạch hơn mức một căn phòng bỏ trống nhiều tuần đáng lẽ phải có. Chiếc kệ trên tường vẫn giữ nguyên những món nhỏ ở đúng chỗ cũ.
Khoi07102011 đứng ngoài ngưỡng cửa một lúc rồi mới bước vào.
Không có thay đổi nào đủ lớn để khiến căn phòng trở nên khác lạ. Chỉ có chiếc túi được đặt xuống sàn thay vì tiếp tục nằm trên vai, và cánh cửa sau đó được khép lại từ phía bên trong.
Tối hôm ấy, ở bếp chung cuối dãy nhà có thêm một người ngồi vào bàn.
Không ai tổ chức đón mừng. Amogus chỉ múc thêm một phần thức ăn như vẫn làm mỗi khi có người về muộn.
Sự bất ổn không chỉ làm biến dạng địa hình mà còn bẻ cong vị trí của các lực lượng bên trong. Giữa lúc tìm đường rút, họ bất ngờ bị dịch chuyển tới khu vực quanh một trường học bỏ hoang và phân tán ở nhiều vị trí khác nhau. Ngôi trường nằm ngoài vùng rìa từng được khảo sát, tương đối gần cánh cổng, nhưng tình trạng méo không gian khiến tọa độ chính xác gần như không thể xác định.
Tiến sĩ Mamoru cũng có mặt tại trường học. Từ đây, một tín hiệu định tuyến được phát đi để các nhóm đang phân tán có thể lần theo và tập hợp. Mamoru đồng thời mang theo một thiết bị có khả năng xác định phương hướng dẫn về lối ra vào của cánh cổng, vì vậy việc tìm đường trở lại khu vực cổng sau khi lực lượng hội quân không trở thành trở ngại quá lớn. Tuy nhiên, trong thời gian tập hợp, những zombie đột biến vẫn tiếp tục xuất hiện quanh trường học. Chúng yếu hơn so với những cá thể từng gặp ở các khu vực trước, nhưng số lượng lại nhiều hơn hẳn, khiến việc duy trì phòng tuyến liên tục cả ngày lẫn đêm trở thành một vấn đề lớn.
Việc tập hợp không diễn ra cùng một lúc.
Các nhóm bị dịch chuyển tới những vị trí khác nhau phải lần lượt tìm đường về phía tín hiệu. Có người xuất hiện gần trường học và tới được tương đối nhanh; những người ở xa hơn phải vừa di chuyển vừa tránh các đàn sinh vật đang xuất hiện ngày càng dày.
Những nhóm về trước không thể đơn giản ngồi chờ.
Họ giữ khu vực đủ ổn định để những người tới sau còn có một điểm tập hợp. Mỗi khi một nhóm mới xuất hiện, tình hình lực lượng lại được đánh giá lại: ai còn khả năng chiến đấu, ai cần nghỉ, ai bị thương và còn những nhóm nào chưa trở về.
Trong hoàn cảnh đó, trường học không trở thành một căn cứ thật sự.
Nó chỉ là một điểm mà những người đang bị rải rác trong một vùng không gian méo mó có thể cùng hướng tới.
Càng nhiều người tập hợp được, khả năng giữ phòng tuyến càng tốt hơn.
Nhưng đồng thời, lượng vật tư phải chia sẻ cũng tăng lên và số người cần được bảo vệ không hề giảm.
Khoảng thời gian chờ những nhóm cuối cùng trở về vì thế trở thành một cuộc phòng thủ kéo dài hơn là một cuộc hội quân đơn giản.
Ý tưởng đóng cánh cổng không phải đến lúc mọi người tập hợp ở trường học mới lần đầu được đưa ra.
Từ trước đó, Căn Cứ đã chuẩn bị phương án này như một biện pháp dự phòng nếu Dị Linh Giới vượt khỏi khả năng kiểm soát.
Trong giai đoạn cánh cổng còn ổn định, không ai muốn sử dụng nó quá sớm. Đóng cổng đồng nghĩa từ bỏ toàn bộ khu vực đã mất nhiều tuần khảo sát, các điểm đóng quân, những tuyến tài nguyên và đặc biệt là nguồn Spirit Relic mà nhiều lực lượng vừa bắt đầu phụ thuộc vào.
Nhưng sau khi không gian biến đổi dữ dội, vị trí các đoàn bị bẻ cong và những tuyến đường quen thuộc không còn đáng tin, tính toán ấy thay đổi hoàn toàn. Những phương án cho phép tiếp tục duy trì hoạt động bên trong gần như không còn đủ hiệu quả để bảo đảm an toàn.
Kế hoạch đóng cổng vì thế không còn là một lựa chọn trong nhiều lựa chọn. Nó trở thành phương án khẩn cấp duy nhất còn khả năng chấm dứt nguy cơ trước khi vùng bất ổn tiếp tục lan rộng.
Vấn đề nằm ở việc một phương án đã được chuẩn bị từ trước không có nghĩa nó có thể được thực hiện dễ dàng. Lực lượng đang phân tán. Nhiều người vừa trải qua quá trình rút lui và hội quân. Trang bị cùng vật tư đã hao mòn. Các phe còn bất đồng về việc có nên từ bỏ nguồn tài nguyên phía bên kia hay không.
Và để phương án đóng cổng có thể triển khai, khu vực quanh cổng vẫn phải được giữ đủ ổn định để Căn Cứ đưa thiết bị cùng nhân lực cần thiết vào vị trí.
Sau khi các nhóm phần lớn đã tập hợp và xác định được hướng trở về khu vực cổng, một cuộc họp ngắn được tổ chức. Việc đóng cổng đồng nghĩa mất quyền tiếp cận Dị Linh Giới cùng những nguồn tài nguyên tại đó, đặc biệt là Spirit Relic. Vì vậy, nhiều phe phái muốn giữ cánh cổng mở để tiếp tục khai thác.
GUIDER vì thế không phải nghĩ ra kế hoạch trong cuộc họp này. Đây là thời điểm một phương án dự phòng đã tồn tại từ trước được đưa lên thành mệnh lệnh phải thực hiện. Không phải vì tất cả đã đồng thuận, mà vì mọi lựa chọn khác còn lại đều không đủ khả năng giải quyết tình hình.
Trong thẩm quyền phản ứng khẩn cấp tại hiện trường, GUIDER ra lệnh đóng cổng, điều phối các phe phái rút về vùng rìa và duy trì trật tự để Căn Cứ triển khai thiết bị.
Ngay khi kế hoạch bắt đầu, The Eternal Reaver xuất hiện.
Thực thể hiện ra với hình dáng gần giống một chiến binh cổ đại khoác giáp toàn thân. Các lớp giáp mang sắc tím đen, còn kích thước cơ thể lớn tới mức những người có mặt chỉ có thể ước tính nó cao khoảng gấp đôi một người bình thường.
Trong tay phải là một thanh đại đao dài và nặng tới mức gần như không tương xứng với bất kỳ loại vũ khí cá nhân nào nhân loại đang sử dụng tại hiện trường.
Bàn tay trái của thực thể lại hoàn toàn khác.
Phần chi thể đã biến dị, bao phủ bởi ngọn lửa tím và có thể phóng ra những khối năng lượng chậm hơn nhiều loại đạn thông thường nhưng vẫn liên tục truy đuổi mục tiêu. Khi một chiến binh cố vòng sang bên sườn, The Eternal Reaver có thể biến mất khỏi vị trí trong một khoảng rất ngắn rồi xuất hiện cách đó không xa, đủ để phá vỡ ý định bao vây.
Sức mạnh của thực thể khiến những đội đang chuẩn bị rút lui phải lập tức thay đổi ưu tiên.
Nhưng nó không phải một đối thủ hoàn toàn không thể tiếp cận.
Thanh đại đao quá lớn giúp mỗi đòn đánh tạo ra sức uy hiếp đáng kể, đồng thời khiến The Eternal Reaver khó xử lý những mục tiêu liên tục thay đổi vị trí. Những chiến binh có tốc độ và khả năng cơ động cao bắt đầu tận dụng điểm này để kéo sự chú ý của nó, tạo khoảng trống cho các lực lượng khác thoát khỏi hướng tấn công trực tiếp.
Trận chiến vì thế không diễn ra theo cách một lực lượng đồng loạt lao vào áp đảo thực thể.
Nó giống một cuộc giằng co, nơi con người cố tận dụng từng giới hạn nhỏ của một đối thủ mạnh hơn mình rất nhiều để không bị nghiền nát ngay tại khu vực cánh cổng.
Thực thể này mạnh hơn rất nhiều so với khả năng thông thường của nhân loại ở thời điểm đó. Nó càn quét mọi thứ xung quanh, buộc các lực lượng đang rút lui và các đội chiến đấu phải chuyển sang trạng thái đối phó khẩn cấp. Trong tình thế ấy, Cunhihihihi cùng tổ đội của mình xuất trận và trực tiếp giao chiến với The Eternal Reaver. Nhiều phe phái khác cũng nhanh chóng tham gia.
The Eternal Reaver không bị đánh bại ngay trong lần giao chiến đầu tiên.
Những lực lượng có mặt phải mất một khoảng thời gian mới bắt đầu hiểu được nhịp chiến đấu của thực thể. Thanh đại đao của nó quá lớn để có thể xoay trở linh hoạt trước những mục tiêu liên tục đổi hướng, nhưng chỉ cần một chiến binh chậm lại hoặc phán đoán sai khoảng cách, một đòn đánh cũng đủ khiến đội hình phía trước phải lập tức tách ra.
Những người có khả năng cơ động cao vì thế dần nhận phần nguy hiểm nhất. Họ kéo sự chú ý của The Eternal Reaver, buộc nó đổi hướng liên tục, trong khi những lực lượng khác tìm thời điểm tiến vào từ các góc mà thanh đại đao khó phản ứng kịp.
Cunhihihihi là một trong những người giữ nhịp như vậy lâu nhất. Tốc độ và độ linh hoạt cho phép cậu áp sát rồi rút khỏi tầm chém nhiều lần, nhưng mỗi lần như thế đều là một lần phải chấp nhận rằng chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể khiến toàn bộ lợi thế cơ động mất ý nghĩa.
Cuối cùng, sau một chuỗi giao tranh kéo dài, The Eternal Reaver lần đầu bị đánh gục.
Không ai tại hiện trường lập tức coi đó là một chiến thắng hoàn toàn. Những người vừa thoát khỏi tầm đánh trước hết kiểm tra thương tích, kéo người bị thương ra xa và nhìn lại khu vực cổng để chắc rằng không còn một mối đe dọa khác xuất hiện ngay sau đó.
Chỉ khi tình hình tạm ổn, những vật phẩm còn lại quanh nơi thực thể ngã xuống mới bắt đầu được thu hồi. Một số món có hình dạng và chất lượng vượt xa phần lớn trang bị thông thường tại thời điểm đó. Ban đầu, điều này chỉ được xem như một phần chiến lợi phẩm đặc biệt từ một sinh vật dị thường đặc biệt. Không ai biết liệu chúng có xuất hiện lần nữa hay không.
Khoảng nghỉ ấy không kéo dài.
The Eternal Reaver xuất hiện trở lại. Sự tái xuất buộc những người vẫn còn quanh khu vực cổng phải chuyển ngay từ trạng thái thu hồi sang chiến đấu. Lần này, họ đã biết nhiều hơn về nhịp di chuyển của thực thể nên thời gian phản ứng nhanh hơn, nhưng sự trở lại của một đối thủ vừa bị đánh bại hoàn toàn vẫn đủ khiến mọi giả định trước đó phải thay đổi.
Sau lần thứ hai bị hạ, chiến lợi phẩm lại xuất hiện. Không giống hoàn toàn lần trước, nhưng vẫn có giá trị đủ lớn để không ai có thể xem đó là một sự trùng hợp không đáng chú ý.
Một chu kỳ bắt đầu lộ ra: The Eternal Reaver bị đánh bại, một lượng vật phẩm xuất hiện, sau một khoảng thời gian thực thể tái hiện, rồi chu kỳ lặp lại.
Chỉ sau vài lần, việc đối phó với The Eternal Reaver không còn được nhìn bằng cùng một cách như lúc nó vừa xuất hiện. Nó vẫn là một mối nguy, nhưng đồng thời cũng đã trở thành một nguồn chiến lợi phẩm có khả năng xuất hiện lặp lại. Trong bối cảnh trang bị Epic và Mythical vẫn còn rất khó tiếp cận, chỉ riêng khả năng đó cũng đủ khiến sự chú ý của các phe phái chuyển hướng.
Ban đầu, để tránh việc nhiều lực lượng cùng lao vào một mục tiêu, các bên hình thành một thỏa thuận ngầm. Từng nhóm sẽ có lượt giao chiến riêng. Những lực lượng khác giữ khoảng cách, chờ lượt hoặc hỗ trợ ở mức cần thiết nếu tình hình vượt khỏi kiểm soát.
Thỏa thuận không được xây dựng bằng một hệ thống luật hoàn chỉnh. Nó chỉ tồn tại vì tất cả đều hiểu rằng một hiện trường hỗn loạn ngay cạnh cánh cổng đang bất ổn sẽ khiến mọi bên cùng chịu thiệt.
Trong vài chu kỳ đầu, cách làm này còn đủ để duy trì trật tự. Nhưng càng nhiều lần The Eternal Reaver để lại chiến lợi phẩm hiếm, giới hạn của thỏa thuận càng hiện rõ. Một lượt chiến đấu tốt có thể đem lại nhiều hơn những gì một nhóm thu được sau nhiều chuyến thám hiểm thông thường; một lượt thất bại hoặc bị buộc phải nhường lại khu vực có thể đồng nghĩa bỏ lỡ thứ mà không ai biết bao giờ sẽ xuất hiện lần nữa.
Từ đó, việc chờ đến lượt bắt đầu trở nên khó chấp nhận hơn đối với một số lực lượng.
Những va chạm ban đầu vẫn còn ở mức có thể kiềm chế. Một nhóm vừa kết thúc giao chiến nhưng chưa kịp thu hồi hết chiến lợi phẩm có thể thấy lực lượng khác tiến vào sớm hơn dự kiến. Có bên cho rằng lượt chiến đấu đã kết thúc ngay khi The Eternal Reaver bị đánh bại; bên khác cho rằng quyền thu hồi chỉ kết thúc khi lực lượng vừa chiến đấu đã rời khỏi khu vực.
Không có quy tắc đủ rõ để giải quyết triệt để tranh chấp ấy. Từ việc đứng quá gần, các bên bắt đầu chen đường. Từ chen đường, họ bắt đầu giữ những vị trí có lợi trước khi Reaver tái xuất. Rồi xuất hiện những nhóm cố tình ngăn người khác tiếp cận mục tiêu trước mình.
Đội của Cunhihihihi cũng bị cuốn vào thế đối đầu đó. Trong một giai đoạn, họ áp dụng một phương án tương đối rõ: Cun trực tiếp tập trung vào The Eternal Reaver, tận dụng khả năng cơ động để giữ mục tiêu và gây sát thương; các thành viên còn lại giữ những lực lượng đang tìm cách chen vào hoặc phá vỡ lượt giao chiến.
Phương án giúp đội giữ được quyền lợi của mình trong một thời gian. Nhưng nó đồng thời đẩy ranh giới giữa tự bảo vệ và truy cản ngày càng mỏng hơn. Các bên khác cũng bắt đầu tổ chức người chuyên giữ đường, ngăn tiếp cận hoặc phá nhịp của đối thủ.
Từ đây, mỗi lần Reaver tái xuất không còn chỉ là một trận chiến giữa con người và thực thể. Nó trở thành một hiện trường có nhiều lớp xung đột chồng lên nhau.
Đỉnh điểm xảy ra trong một lượt giao chiến mà gần như mọi bên có lực lượng quanh khu vực đều đã ở trạng thái đối đầu kéo dài từ trước. Không còn ai thật sự rời xa sau khi lượt của mình kết thúc. Các nhóm chỉ lùi vừa đủ để chữa thương, thay trang bị hoặc chờ The Eternal Reaver tái hiện.
Khi thực thể xuất hiện trở lại, nhiều lực lượng cùng tiến vào gần như đồng thời. Không phe nào muốn trở thành người đứng ngoài.
Một số người vẫn tập trung đánh The Eternal Reaver. Nhưng những người khác bắt đầu dành nhiều sự chú ý hơn cho đối thủ cạnh tranh. Đường tiếp cận bị chặn. Những chiến binh đang tìm cách áp sát Reaver bị ép phải đổi hướng. Có nhóm cố kéo đối thủ ra khỏi vùng giao chiến. Có người chủ động phá nhịp một đợt tấn công chỉ để ngăn lực lượng khác trở thành bên kết liễu thực thể.
Từ thời điểm đó, mục tiêu của một phần lực lượng không còn đơn giản là đánh bại The Eternal Reaver càng nhanh càng tốt. Họ muốn Reaver bị hạ vào thời điểm có lợi cho mình. Và nếu một bên khác đang ở vị trí có thể kết thúc trận chiến trước, việc ngăn bên đó lại đôi khi được ưu tiên hơn cả việc giảm mối nguy chung.
Hệ quả xuất hiện gần như ngay lập tức. Một thực thể vốn có thể bị khống chế bằng việc liên tục ép nó đổi hướng và không cho thời gian ổn định nhịp tấn công bắt đầu có nhiều khoảng trống hơn. Những người đáng lẽ phối hợp ép nó lùi lại lại phải né cả Reaver lẫn các lực lượng đang truy cản nhau.
Các đợt tấn công bị ngắt quãng. Khoảng trống phòng thủ xuất hiện. The Eternal Reaver tận dụng chính những khoảng trống đó. Thanh đại đao quét qua những vị trí vốn đã mất trật tự; những khối năng lượng từ bàn tay trái tiếp tục bám theo các mục tiêu đang phải đổi hướng vì bị người khác cản trở. Năng lực dịch chuyển cự ly ngắn khiến nó liên tục xuất hiện ở những góc mà đội hình đang phân tán không thể phản ứng đồng thời.
Thiệt hại tăng lên không phải vì The Eternal Reaver đột nhiên mạnh hơn. Nó tăng lên vì con người đã khiến việc đối phó với nó trở nên khó hơn nhiều so với cần thiết.
Trong hỗn loạn ấy, Cun vẫn là một trong những người trực tiếp giữ The Eternal Reaver. Cậu không thể rời khỏi mục tiêu chỉ vì các bên phía sau đang tranh chấp. Nếu Reaver được bỏ mặc quá lâu, những người đang tập trung vào việc truy cản nhau sẽ trở thành những mục tiêu gần như không có đội hình phòng thủ hoàn chỉnh.
Vì vậy Cun tiếp tục giữ nhịp. Cậu vòng khỏi tầm đại đao, áp sát khi thực thể vừa kết thúc một đòn đánh, rút khỏi hướng của các khối năng lượng đang truy đuổi, ép Reaver xoay người rồi lại tìm khoảng trống để tiếp tục tấn công.
Nhưng trận chiến kéo dài hơn những lượt trước. Những người đáng lẽ có thể chia bớt áp lực cho Cun nhiều lúc lại đang mắc vào cuộc đối đầu với các phe khác. Không bên nào muốn rút trước. Không bên nào muốn để đối thủ có cơ hội kết liễu Reaver ngay sau khi mình rời khỏi hiện trường.
Thế giằng co khiến mặt trận gần như không có khoảng nghỉ thực sự.
Cun cũng không rời đi. Đó là sai lầm lớn nhất của cậu trong giai đoạn này. Khả năng cơ động giúp Cun tránh được nhiều đòn có thể kết thúc trận chiến ngay lập tức, nhưng nó không khiến cậu miễn nhiễm với việc phải giữ cường độ chiến đấu quá lâu.
Một vết chém sượt qua lớp giáp. Một lần không kịp thoát hoàn toàn khỏi vùng ảnh hưởng của đại đao. Một khối năng lượng truy đuổi buộc cậu đổi hướng vào thời điểm không thuận lợi. Rồi thêm một lần áp sát khi cơ thể đã chậm hơn lúc đầu.
Phần lớn thương tích tích tụ trên người Cun trong giai đoạn này đến trực tiếp từ The Eternal Reaver. Không phải một đòn duy nhất đánh gục cậu. Đó là kết quả của việc cậu tiếp tục đứng ở mặt trận quá lâu, trong một trận chiến đáng lẽ đã có thể được kết thúc sớm hơn nếu những lực lượng quanh đó còn cùng ưu tiên hạ thực thể trước khi tranh giành chiến lợi phẩm.
Càng về sau, chuyển động của Cun càng phải ngắn lại. Khoảng thời gian cậu có thể giữ Reaver trong một nhịp tấn công an toàn ngày càng nhỏ. Nhưng cậu vẫn tiếp tục. Rút khỏi mặt trận lúc đó đồng nghĩa để lại một khoảng trống mà không ai chắc sẽ có người lập tức thay thế.
Đến một thời điểm, cơ thể và trang bị không còn đủ để bù cho lượng thương tích đã tích tụ. Cun buộc phải rời khỏi trạng thái chiến đấu trong tình trạng rất nặng. Khi được đưa ra khỏi vùng nguy hiểm, phần lớn những vết thương nghiêm trọng trên người cậu đều mang dấu vết của trận giao chiến trực tiếp với The Eternal Reaver.
Cuộc tranh giành giữa các phe không phải nguồn trực tiếp của phần lớn những vết thương ấy. Nhưng chính việc họ truy cản nhau, phá nhịp tấn công và kéo dài thời gian Reaver còn tồn tại trên chiến trường đã khiến Cun phải giữ mặt trận lâu hơn mức cần thiết.
Tiến sĩ Mamoru sau đó trực tiếp tham gia cứu chữa. Việc Cun — một trong những người có khả năng cơ động và duy trì chiến đấu tốt nhất tại hiện trường — cuối cùng cũng bị bào mòn tới mức phải rời trận khiến mức độ nghiêm trọng của tình hình trở nên không thể phủ nhận.
Từ đây, cuộc tranh đoạt không còn chỉ làm chậm kế hoạch đóng cổng. Nó đã trực tiếp biến một mối nguy vốn có thể được phối hợp khống chế thành thứ gây thêm thương vong cho tất cả những người đang ở quanh cánh cổng.
Cao trào ấy không lập tức chấm dứt tranh chấp. Các bên vẫn còn giữ người quanh khu vực, nhưng số thương binh tăng nhanh và khả năng duy trì từng lượt giao chiến bắt đầu suy giảm. Những phe nhỏ chịu thiệt rõ nhất; họ không đủ lực lượng vừa tham chiến với The Eternal Reaver, vừa bảo vệ chiến lợi phẩm, vừa đối phó với các nhóm khác đang giữ khu vực.
Tiến độ đóng cổng gần như đình trệ hoàn toàn. Vật tư tiêu hao vượt xa dự tính, GUIDER không đủ lực lượng để kiểm soát mọi điểm xung đột, còn Căn Cứ phải đồng thời đối phó với một cánh cổng vẫn tiếp tục bất ổn.
Chính trong trạng thái đó, cánh cổng cuối cùng vượt khỏi giới hạn mà các lực lượng tại hiện trường còn có thể kiểm soát.
Cuối cùng, cánh cổng gầm lên một tiếng vang lớn. Những đợt sóng xung kích cực mạnh bùng ra, hất văng mọi thứ khỏi khu vực cổng. Những lực lượng còn lại vừa cố ổn định đội hình vừa tháo chạy ra xa, đề phòng một đợt xung kích khác có thể tiếp tục quét qua hiện trường. Trong lúc đó, cánh cổng vẫn nhanh chóng mở rộng ngoài tầm kiểm soát. Các nỗ lực của Căn Cứ dần trở nên vô hiệu, còn The Eternal Reaver vẫn là mối đe dọa trực tiếp đối với tất cả những người chưa kịp rút khỏi khu vực.
Các lực lượng còn chưa kịp hoàn hồn.
Sau những đợt sóng xung kích, đội hình quanh khu vực cổng gần như không còn giữ được hình dạng ban đầu. Những người còn đủ khả năng di chuyển tiếp tục lùi ra xa, vừa tìm lại đồng đội vừa chuẩn bị tinh thần cho khả năng một đợt xung kích khác sẽ xuất hiện.
Trong khi đó, cánh cổng vẫn tiếp tục mở rộng.
Những nỗ lực của Căn Cứ không còn đủ để đảo ngược quá trình ngay lập tức. The Eternal Reaver vẫn hiện diện như một mối đe dọa trực tiếp, khiến lực lượng tại chỗ không thể tập trung toàn bộ vào việc bảo vệ khu vực triển khai thiết bị.
Không có dấu hiệu nào cho thấy tình hình sắp tự ổn định.
Rồi gần như ngay lập tức, một tia năng lượng khổng lồ xuất hiện từ một hướng xa ngoài khu vực giao chiến.
Không có cảnh báo trước. Không có lực lượng nào tại hiện trường nhận trách nhiệm khai hỏa.
Tác động của tia năng lượng không giống bất kỳ đòn pháo kích nào những người tại hiện trường từng chứng kiến. Trong khoảnh khắc nó chạm vào cánh cổng, ánh sáng phủ kín phần không gian phía trước mạnh đến mức nhiều người không thể nhìn thẳng.
Một nhịp sau, vùng bất ổn phía bên kia bắt đầu sụp xuống. Những đường méo không gian từng lan quanh cánh cổng co lại, đứt gãy rồi biến mất từng phần. Cấu trúc cổng chịu một lực tác động đủ lớn để những thiết bị gần đó đồng loạt ghi nhận biến động vượt xa mức trước đó.
Nhưng điều khiến những người còn tỉnh táo khó hiểu nhất không chỉ là sức mạnh.
Đó là độ chính xác.
Tia năng lượng không quét ngang hiện trường. Nó không cày một đường dài qua mặt đất trước khi chạm mục tiêu. Nó cũng không tạo ra một vùng phá hủy lan rộng tương xứng với lượng năng lượng vừa được giải phóng.
Phần tác động khủng khiếp nhất dường như bị giữ gần như hoàn toàn bên trong khu vực của cánh cổng và vùng không gian bất ổn gắn với nó.
Những người ở khoảng cách đủ gần vẫn cảm nhận được chấn động. Một số bị ép phải cúi thấp hoặc mất thăng bằng. Bụi và mảnh vụn bị cuốn lên khỏi mặt đất. Thiết bị liên lạc nhiễu mạnh trong một khoảng ngắn.
Nhưng những vị trí chỉ cách vùng tác động không quá xa lại không bị xóa sổ như người ta có thể chờ đợi từ một đòn đánh có sức công phá như vậy.
Sau khi ánh sáng giảm xuống, sự tương phản ấy mới thực sự trở nên khó hiểu. Phần cánh cổng vừa còn mở rộng mất kiểm soát đã bị đánh trúng chính xác. Vùng không gian bất ổn phía sau nó sụp xuống. Trong khi đó, những người đang rút khỏi hiện trường vẫn còn ở đó.
Không ai biết một đòn đánh từ khoảng cách xa tới mức không thể xác định nguồn có thể được đặt vào một mục tiêu đang biến động với độ chính xác như thế nào. Càng không ai hiểu bằng cách nào sức công phá đủ làm tổn thương chính cấu trúc không gian lại có thể được tập trung đến mức hạn chế phần lớn ảnh hưởng ngoài mục tiêu.
Một số người theo phản xạ nhìn về hướng tia năng lượng vừa xuất hiện. Không có gì để nhìn thấy. Không có dấu hiệu của một đơn vị pháo kích. Không có tín hiệu nhận trách nhiệm. Không có đợt bắn thứ hai.
Chỉ còn một cánh cổng đã bị đánh gần như chính giữa vào thời điểm mà toàn bộ kế hoạch đóng cổng đang đứng bên bờ thất bại.
The Eternal Reaver cũng bắt đầu suy yếu rõ rệt. Sau mỗi lần bị đánh bại, thực thể cần nhiều thời gian hơn trước để xuất hiện trở lại.
Trong vài phút trước đó, nhân loại gần như đã mất khả năng kiểm soát hiện trường. Đòn đánh không giải quyết toàn bộ cuộc khủng hoảng, nhưng nó tạo ra khoảng trống đầu tiên đủ lớn để Căn Cứ và các lực lượng còn lại có thể giành lại quyền chủ động.
Khoảng trống mà tia năng lượng tạo ra không kéo dài mãi. Những người còn khả năng chiến đấu hiểu điều đó gần như cùng lúc.
The Eternal Reaver vẫn chưa biến mất. Nhưng lần này, sau khi bị đánh gục, nó không lập tức trở lại với nhịp độ như trước.
Căn Cứ thay đổi mục tiêu. Không còn ai được yêu cầu tiếp tục tìm cách tiêu diệt thực thể bằng mọi giá.
Việc cần làm chỉ còn một điều: đưa nó trở lại phía bên kia trước khi cánh cổng được đóng.
Khi The Eternal Reaver tái xuất, những lực lượng còn lại không lao vào theo cách đã từng dùng trong cuộc tranh đoạt. Không còn ai chờ xem chiến lợi phẩm sẽ thuộc về bên nào.
Một nhóm giữ phía sườn, buộc thực thể không thể dịch chuyển tự do ra khỏi hướng cánh cổng. Những người có khả năng cơ động cao liên tục kéo sự chú ý của nó rồi rút khỏi tầm đại đao, không cố giữ vị trí lâu hơn cần thiết. Ở phía sau, lực lượng khác bảo vệ khu vực nơi thiết bị của Căn Cứ đang được triển khai.
Mỗi lần Reaver đổi hướng, một khoảng trống khác lại được lấp vào. Không phải một đợt tấn công duy nhất ép được thực thể lùi lại. Đó là nhiều lần nhường chỗ, đổi người và buộc nó phải bước theo một hướng duy nhất.
Có lúc Reaver dịch chuyển khỏi vị trí vừa bị ép tới. Nhưng lần này, thay vì các lực lượng tự cản nhau để giành quyền tiếp cận, những người gần nhất lập tức đổi hướng và khép khoảng trống lại.
Từng bước một, vùng chiến đấu dịch chuyển về phía phần cổng còn sót lại.
Không ai biết thực thể có hiểu điều gì đang xảy ra hay không. Nó vẫn vung đại đao. Những khối năng lượng từ tay trái vẫn bám theo các mục tiêu phía trước. Nhưng khoảng thời gian tái hiện kéo dài khiến mỗi lần nó bị đánh gục đều cho con người thêm vài phút để thu hẹp khu vực, đưa người bị thương ra sau và chuẩn bị vị trí tiếp theo.
Cho tới lần cuối cùng, khi The Eternal Reaver bị ép sát phần cổng còn lại, các lực lượng phía trước đồng loạt rút khỏi hướng đóng cổng. Một đợt tấn công cuối buộc thực thể lùi qua ranh giới.
Ngay khi khoảng cách đủ lớn, Căn Cứ bắt đầu phần còn lại của phương án. Không có tiếng reo mừng. Không còn ai quan tâm liệu lần này Reaver có để lại thứ gì hay không. Mọi sự chú ý đều dồn vào việc cánh cổng phải được đóng trước khi thực thể có thể quay trở lại.
Ngay sau khi mục tiêu bị đẩy lùi qua phần cổng còn lại, Căn Cứ triển khai các thiết bị chuyên dụng để đóng hoàn toàn cánh cổng. Hồ sơ lịch sử chỉ ghi nhận kết quả của quá trình này mà không đi sâu vào cơ chế kỹ thuật của các thiết bị. Vùng không gian phía bên kia cổng bị cắt khỏi khu vực ổn định quanh Địa Tinh Giới; The Eternal Reaver không còn được ghi nhận xuất hiện tại khu vực này, nhưng cũng không có bằng chứng cho thấy thực thể đã bị tiêu diệt.
Việc đóng cổng chấm dứt cuộc khủng hoảng trước mắt, nhưng cái giá phải trả quá lớn. Thương vong, tổn thất vật tư và cuộc tranh đoạt tài nguyên để lại một vết nứt sâu trong ký ức của những lực lượng từng tham gia.
Những người sống sót cuối cùng trở lại vùng ổn định quanh Địa Tinh Giới trong tình trạng rất khác so với khi họ lần đầu bước qua cánh cổng.
Người bị thương được đưa đi chăm sóc. Trang bị còn lại được kiểm tra và những gì thu hồi được từ chiến dịch bắt đầu được tập hợp lại. Nhiều người lần đầu có thời gian nhìn rõ mức độ hao mòn của những thứ mình đã mang theo suốt nhiều tuần bên kia cổng.
Sau khi cánh cổng đã được đóng lại, những người từ chiến dịch tiếp tục được đưa về các khu định cư, điểm nghỉ và nơi chăm sóc theo từng nhóm nhỏ.
Ở đầu con đường dẫn vào khu dân cư, khoaplaymc đứng cùng vài người khác từ sáng. Không ai phân công họ làm công việc đón người. Họ chỉ ở đó, đưa nước cho những người vừa tới, nhận giúp một chiếc túi quá nặng hoặc chỉ hướng tới nơi cần đến.
Những người trở về trông khác nhau. Có người chỉ mang theo bộ trang bị đã vá nhiều lần. Có người phải đi chậm hơn trước. Có người cần người bên cạnh đỡ một đoạn đường. Bụi và dấu hao mòn trên quần áo khiến họ nổi bật giữa những căn nhà vẫn giữ nguyên dáng vẻ từ trước khi chiến dịch bắt đầu.
Tại nơi cư dân thường đọc tin, một danh sách xác nhận những người đã trở về được dán lên. Khi chỗ trên tờ đầu tiên không còn đủ, người ta đặt thêm một tờ khác bên cạnh.
Thanhhoa121006 đọc từng cái tên cho những người đứng phía sau không nhìn rõ. Người này đọc chậm, không bỏ sót dòng nào. Có một cái tên khiến nhịp đọc dừng lại lâu hơn một chút trước khi tiếp tục.
Một vài dòng trên danh sách vẫn chưa có dấu xác nhận.
Không ai đứng trước bảng tin khi ấy có đủ thông tin để giải thích những khoảng trống đó, và cũng không ai vội biến chúng thành một kết luận.
Đồng thời, một thực tế khác dần trở nên rõ ràng.
Pháo đài nơi họ từng đóng quân không còn là nơi có thể quay lại.
Những tuyến đường đã mất công khảo sát, những khu vực từng được đánh dấu và toàn bộ tài nguyên vẫn còn ở phía bên kia đều bị cắt khỏi vùng không gian ổn định quanh Địa Tinh Giới.
Đối với một số người, việc cánh cổng biến mất đồng nghĩa mối nguy cuối cùng đã bị ngăn lại.
Đối với những người khác, nó cũng đồng nghĩa một phần công sức của nhiều tuần hoặc nhiều tháng đã vĩnh viễn nằm ngoài tầm với.
Nhưng ở bên ngoài chiến dịch, Địa Tinh Giới vẫn tiếp tục tồn tại.
Những căn nhà được dựng trước khi cánh cổng xuất hiện vẫn còn đó. Các con đường vẫn nối những khu định cư với nhau. Cuộc sống mà con người vừa bắt đầu xây dựng không biến mất chỉ vì một biến cố đã cuốn quá nhiều người vào bên trong Dị Linh Giới.
Tối hôm đó, bếp chung cuối dãy nhà đông hơn thường lệ.
Amogus nấu một nồi lớn bằng những nguyên liệu còn lại trong kho. Món ăn vẫn thuộc loại khó gọi tên như những lần trước, nhưng lần này chẳng ai tranh luận xem nó nên được gọi là gì. Người ta chỉ chuyền bát cho nhau, nhường chỗ trên ghế và để những người vừa trở lại ngồi xuống trước.
Khoi07102011 đã về từ trước khi cánh cổng bị đóng. Chiếc kệ trong căn phòng của người này vẫn còn nguyên, và cánh cửa giờ lại được mở vào những giờ quen thuộc. Khoaplaymc cũng có mặt ở bếp sau một ngày đứng ngoài đầu đường. Thanhhoa121006 tới muộn hơn, khi những tờ danh sách ở chỗ đọc tin đã không còn ai đứng quanh.
Không có ai kể lại toàn bộ những gì đã xảy ra bên kia cánh cổng.
Những câu chuyện xuất hiện từng đoạn ngắn rồi ngừng giữa chừng. Có lúc cả bàn chỉ còn tiếng bát chạm nhẹ vào nhau và tiếng lửa trong bếp.
Bữa ăn kết thúc sớm hơn những buổi tụ tập trước đây.
Nhưng khi thức ăn đã hết, vẫn chưa có ai vội đứng dậy.
Điều thay đổi là những người trở về đã hiểu rằng gia viên mới của họ không nằm ngoài những hiểm họa của vũ trụ.
Nhân loại đã tìm được một nơi để sống.
Và chỉ vài tháng sau, họ cũng học được rằng có một nơi để gọi là nhà đồng nghĩa với việc từ nay họ sẽ có thứ để mất.
Không thể vì thế chia các bên thành anh hùng hay tội phạm một cách đơn giản; công lao và sai phạm có thể cùng tồn tại.
GUIDER ghi nhận đóng góp của từng bên, nhưng không dùng công lao để miễn trừ trách nhiệm cho các hành vi truy cản, tranh đoạt hoặc làm rối hiện trường. Tổ chức đồng thời hàn gắn quan hệ giữa các lực lượng và siết chặt nguyên tắc phối hợp, nhằm ngăn một cuộc tranh đoạt tương tự tái diễn.
Chapter 02 kết thúc bằng việc cánh cổng Dị Linh Giới được đóng lại.
Nhưng câu hỏi lớn nhất vẫn chưa có lời giải.
Tia năng lượng kia đến từ đâu?
Đó là một sự can thiệp tình cờ, một bàn tay bí mật đang giúp đỡ nhân loại, hay dấu hiệu đầu tiên của một nền văn minh chưa được xác định?
Liên kết hồ sơ: [[02_chapter/chapter_01_khai_pha_vung_dat_moi|Chapter 01 — Khai phá vùng đất mới]] · [[08_sinh_vat/zombie_bi_nhiem_chorus|Zombie bị nhiễm chorus]] · [[08_sinh_vat/the_eternal_reaver|The Eternal Reaver]] · [[04_nhan_vat/creepervn8450|CreeperVN8450]] · [[02_chapter/chapter_03_nen_van_minh_bi_lang_quen|Chapter 03 — Nền văn minh bị lãng quên]]