STORY MINECRAFT
CHAPTER 07 / OFFICIAL STORYCANON

Ancient City

Tín hiệu cũ trở lại từ một lớp không gian bị che khuất.

✦

1. Mở đầu

Những rung động phát sinh từ sự cố khai thác tại Vạn Tinh Giới đã khiến một tuyến tín hiệu cũ trong hồ sơ Dị Linh Giới phản hồi trở lại. Sau một thời gian dài im lặng, lối vào từng bị che khuất bắt đầu mở ra giữa cấu trúc giới tầng mà nhân loại vẫn chưa hiểu hết.

Căn Cứ ghi nhận hiện tượng nhưng chưa lập tức tổ chức thám hiểm. Tín hiệu vẫn yếu và gián đoạn, còn khoảng rỗng nằm dưới lớp không gian từng được biết đến chưa thể được xác định bằng hệ tọa độ thông thường. Khu vực được giữ dưới sự theo dõi trong khi các đợt dò quét từ xa tiếp tục được tiến hành.

Trong lúc ấy, đời sống tại các thế giới của nhân loại vẫn vận hành theo nhịp quen thuộc. Chưa ai biết khoảng lặng trước lối vào sẽ kéo dài bao lâu, hoặc điều gì đang chờ ở phía bên kia.

2. Diễn biến

Khoảng lặng ấy không tạo ra một ranh giới rõ ràng giữa trước và sau. Trong nhiều ngày, rồi nhiều tuần, tín hiệu vẫn chỉ đủ để người phụ trách hiểu rằng có một thứ đang dần hiện ra chứ chưa đủ để buộc toàn bộ xã hội quay đầu nhìn về nó. Vì vậy, câu chuyện của lối vào mới mở không bắt đầu bằng tiếng báo động, mà bằng việc nó tồn tại song song với một thế giới vẫn tiếp tục sống như thường lệ.

Những dữ liệu Căn Cứ nhận được từ tuyến tín hiệu cũ vẫn quá rời rạc để tạo thành một kết luận. Chúng củng cố một số giả thuyết đã có, làm suy yếu vài giả thuyết khác và buộc các đội dò quét phải điều chỉnh cách tiếp cận, nhưng chưa đủ để yêu cầu đời sống bên ngoài dừng lại.

Cũng trong quãng thời gian này, CreeperVN8450 khai trương một nhà sách mới ngay tại khu đô thị lớn nhất Huyền Tinh Giới. Chỉ một năm trước, cậu vẫn còn vận hành một nhà sách nhỏ; lần khai trương này vì thế đánh dấu một bước chuyển đáng kể trong hành trình viết, sưu tầm và kinh doanh sách.

Giáo Hội Cá Nóc đã tồn tại trên danh nghĩa từ khoảng năm 2225, nhưng phải đến tháng 8/2226 mới được Raykun chính thức công bố thành lập. Sau khi hoàn thành mục tiêu sưu tầm đủ bộ cần câu đang lưu hành tại Địa Tinh Giới, ông cho dựng Nhà Thờ Cá Nóc ở góc phía tây nam của Làng Cáo, gần biển và sát cánh đồng hoa hướng dương. Công trình kéo dài trong vài tuần; phần Cá Nóc dự trữ nhiều lần bị Raykun tiêu thụ trong lúc thi công khiến tiến độ có lúc phải tạm khựng lại.

Giáo Hội vừa là một tổ chức tín ngưỡng vừa là một hội ẩm thực, nằm trong lãnh thổ và dưới sự bảo hộ của Làng Cáo. Thương Hội Cá Nóc do Tiến sĩ Mamoru đứng đầu phụ trách cung ứng và kiểm soát nhẹ mục đích sử dụng nguồn hàng. Sau lễ khánh thành, Giáo Hội hợp tác với realcuatopmo của GUIDER để trao phần thưởng cho cộng đồng; một vụ Raykun tận dụng lỗ hổng pháp lý ngay sau đó suýt khiến ông bị bắt và tổ chức bị giải tán, nhưng tình hình cuối cùng vẫn được xử lý ổn thỏa.

Ở phần còn lại của Làng Cáo, ngày thường bắt đầu bằng tiếng máy.

Làng đã mở rộng qua quá nhiều giai đoạn để còn giống một khu định cư đơn lẻ. Khu dân cư cũ nằm cạnh công trình mới; đường vận chuyển nối kho chứa, bãi tập kết, khu farm và khu chế tác. Xa hơn là các cụm sản xuất chuyên biệt, trong đó có những hệ thống đã được sửa nhiều lần tới mức gần như không còn giống thiết kế ban đầu.

Tất cả vẫn hoạt động.

Cùng thời gian đó, Làng Cáo bắt đầu đưa những phần đầu tiên của một tuyến metro quy mô lớn vào thi công. Dự án đã được nói tới từ nhiều tháng trước, nhận hỗ trợ công nghệ từ Kaxilo và NiFoFo, nhưng việc huy động vốn, phân công nhân lực, điều phối vật liệu và triển khai thực địa vẫn do Làng Cáo tổ chức. Kho vận cùng gần bốn mươi hệ thống farm phải điều chỉnh sản lượng để vừa duy trì nhu cầu thường ngày, vừa dành nguồn lực cho một công trình chỉ có thể đem lại lợi ích sau một quãng dài.

Ở thời điểm tuyến tín hiệu Dị Linh vừa phản hồi, metro mới chỉ là một dự án đang thành hình, Nhà Thờ Cá Nóc vừa bước vào đời sống cộng đồng và các bản đo từ Căn Cứ vẫn chưa đủ để biến sự tò mò thành một cuộc khủng hoảng. Bên ngoài khu vực dò quét, con người tiếp tục mở cửa hàng, sửa máy, kiểm kho, xây công trình và trở về nhà vào cuối ngày.

Sự bình thường ấy kéo dài cho tới khi những phép đo cuối cùng đủ ổn định để Căn Cứ chuyển từ quan sát sang tiếp cận trực tiếp. Không có một khoảnh khắc nào mọi người cùng nhận ra mình đang bước vào một biến cố lớn. Chỉ có một ngày, từ giữa những báo cáo kỹ thuật và lịch vận hành thường nhật, tuyến đường từng chỉ tồn tại trên màn hình chính thức trở thành một nơi con người có thể đặt chân tới.

Sau khi lối vào được xác nhận đủ ổn định để con người qua lại, các chuyến khảo sát xuống tầng sâu của Dị Linh Giới không diễn ra như một cuộc tiến quân liên tục. Chương trình được chia thành từng đợt. Mỗi đoàn tiến vào trên cùng tuyến đường duy nhất, khảo sát tới giới hạn phù hợp với dữ liệu và vật tư đang có rồi rút trở ra. Kết quả của đợt trước được dùng để điều chỉnh thiết bị, kế hoạch và phạm vi cho đợt kế tiếp. NiFoFo không tham gia những chuyến đầu tiên này.

Không phải đợt nào cũng tiến thêm cùng một khoảng. Có đoàn phải quay lại sớm vì địa hình, tín hiệu hoặc giới hạn thiết bị; có đoàn mở rộng được phạm vi đáng kể. Nhịp đi vào, ghi nhận, rút ra rồi chuẩn bị lại khiến vùng chưa biết lùi dần từng bước, trong khi chương trình vẫn giữ dáng vẻ của một hoạt động khai phá có rủi ro nhưng đang vận hành theo kế hoạch.

Khoảng một tháng kể từ khi đội đầu tiên bắt đầu khảo sát, những mảng kiến trúc rời rạc cuối cùng ghép thành hình hài của một đô thị cổ. Ancient City không hiện ra trong một khoảnh khắc duy nhất. Ban đầu chỉ là lớp đá tối và vài cấu trúc chìm sâu; sau đó là những không gian lớn nối tiếp dọc tuyến đi, các bức tường bị ăn mòn và những khu vực từng có chức năng rõ ràng nhưng không ai còn biết dùng để làm gì.

Gần cổng, dấu Sculk còn thưa. Nhiều phần kiến trúc vẫn giữ được hình dạng đáng kể và khu vực trông giống một thành phố hoang hơn là một chiến trường. Chưa có mối nguy tức thời nào đủ để biến toàn bộ chương trình thành khủng hoảng. Các đoàn tiếp tục đánh dấu vị trí, giữ nguyên những cấu trúc chưa hiểu và mang dữ liệu trở về để chuẩn bị cho bước tiếp theo.

Một tháng trôi qua theo cách rất khác ở hai phía. Với các đoàn khảo sát, mỗi ngày thêm vài đoạn đường, vài căn phòng và vài dấu hiệu mới vào bản đồ. Với những người ở ngoài, khoảng thời gian ấy đủ để một công trình đổi tiến độ, một kho phải sắp lại cách vận hành và những việc từng được gọi là kế hoạch bắt đầu trở thành thói quen.

Trong thời gian các bản đồ đầu tiên của Ancient City được dựng lên, công trường metro không còn ở đúng trạng thái của vài tuần trước. Khối lượng vật liệu cần điều phối tăng dần, một phần sản lượng đáng lẽ được chuyển sang khu giao dịch phải giữ lại cho nhu cầu nội bộ, còn các kho bắt đầu phân luồng rõ hơn giữa vật tư thường ngày và phần dành cho xây dựng.

Tại một kho chứa lớn, Yumeii và Miunee kiểm lại vật liệu được đưa về trong đêm. Phần dành cho xây dựng được tách riêng, vật tư cho farm chuyển về khu kỹ thuật, còn những món khó thay thế được đưa sâu hơn vào kho. Trật tự ấy đến từ cả quy định lẫn thói quen đã lặp lại qua nhiều năm.

Ở gần đó, QuangMinh kiểm tra những vật phẩm cũ được lấy ra khỏi khu bảo quản. Có thứ từng xuất hiện trong một sự kiện mà phần lớn thành viên mới chỉ biết qua lời kể; có thứ không còn giá trị sử dụng đáng kể nhưng vẫn được giữ lại vì gắn với một giai đoạn của cộng đồng. Một nơi khác có thể nhìn kho chứa và chỉ thấy tài nguyên. Làng Cáo nhìn một phần trong số đó và thấy những mảnh ký ức còn sót lại sau chiến tranh.

Ở khu sản xuất, Koronox và Thangteter xử lý một cụm farm bị giảm sản lượng vì một cơ cấu vẫn hoạt động nhưng không còn đúng nhịp với phần phía sau. Sai lệch rất nhỏ trong mỗi chu kỳ, song tích lại qua hàng nghìn lần vận hành thì đủ kéo hiệu suất toàn hệ thống xuống. Một bộ phận được chỉnh lại, hệ thống chạy thử thêm vài vòng rồi dòng vật tư trở về nhịp ổn định. Không ai gọi đó là một phát hiện lớn. Họ chuyển sang việc tiếp theo.

Metro đang tiêu thụ vật liệu nhanh hơn dự kiến. Teemo không chỉ từng khối phải đặt ở đâu; ông giữ cho dự án không hút sạch nguồn lực của làng, điều phối các nhóm và quyết định lúc nào có thể đẩy nhanh hoặc phải chấp nhận chậm lại. Khi ông tới điểm tập kết, cuộc trao đổi giống một nhóm người quen cùng giải quyết vấn đề hơn là một buổi báo cáo trước lãnh đạo.

Phần khó nhất vẫn là đoạn vượt biển. Dầm và trụ phải được đặt trong điều kiện phức tạp hơn nhiều so với trên đất liền; thiết bị phải chịu nước, gió và những thay đổi của thời tiết. Mưa lại tới thường xuyên đến mức lịch thi công đôi khi chỉ mang tính tham khảo.

Buổi chiều hôm ấy, mưa quay lại. Các nhóm ngoài biển thu công việc theo quy trình an toàn, cố định vật liệu chưa lắp và chuyển những thiết bị dễ bị ảnh hưởng vào nơi che chắn. Một thành viên trẻ của Làng Cáo Con nhìn mưa đổ xuống phần nền vừa thi công rồi hỏi người bên cạnh liệu ngày mai có phải làm lại không.

“Có thể.”

“Vậy hôm nay làm để làm gì?”

“Để ngày mai biết chỗ nào phải làm tốt hơn.”

Câu trả lời nghe giống một lời đùa, nhưng người trẻ im lặng vài giây rồi gật đầu.

Làng Cáo Con hiện diện trong những khoảnh khắc như vậy nhiều hơn người ngoài nhận ra. Nhiều thành viên trẻ bước vào hệ thống từ một việc nhỏ ở kho, theo nhóm kỹ thuật hoặc tham gia xây dựng, rồi dần hiểu vì sao món đồ cũ được giữ lại và một hệ thống farm xấu xí nhưng ổn định không bị tháo đi làm mới. Không phải ai cũng ở lại mãi, nhưng mỗi thế hệ vẫn để lại một chỉnh sửa trong máy, một căn phòng mới hoặc một cái tên trên hồ sơ cũ.

Những thay đổi nhỏ ấy không liên quan trực tiếp tới Ancient City, nhưng chính vì thế chúng mới tạo ra khoảng cách giữa người đang sống trong nhịp thường ngày và những hệ thống theo dõi thứ đang mở ra ở rất xa. Ở một tầng khác của câu chuyện, nơi thông tin được nén thành báo cáo thay vì hiện ra dưới dạng vật liệu, mưa hay tiếng máy, NiFoFo cũng đang nhìn cùng quãng thời gian ấy qua một lăng kính hoàn toàn khác.

Trong lúc các đợt khảo sát nối tiếp nhau, NiFoFo vẫn không trực tiếp tham gia. Ở một điểm xử lý dữ liệu bí mật nằm sâu dưới lòng Thiên Tinh, cậu ngồi trước một chiếc bàn trong căn phòng không có cửa sổ. Đây không phải cụm NFF chính, chỉ là một nơi làm việc kín đủ để truy cập dữ liệu nhạy cảm trong khi cậu vẫn duy trì đời sống công khai hiện tại.

Trên bàn là một cốc nước đã nguội. Trước mặt NiFoFo là báo cáo thường niên của NFF — hay chính xác hơn, phần đầu của báo cáo.

Phần lớn dữ liệu xuất hiện trên máy tính dưới dạng đã được tổng hợp. Một số bảng cần đặt cạnh nhau được in thành bản làm việc tạm thời; chúng không thay thế dữ liệu gốc và sẽ bị tiêu hủy sau phiên đọc. Từ khi quay lại đời sống nhân loại với thân phận công khai tại Kaxilo, NiFoFo có thêm nhiều dự án, quan hệ và nơi cần xuất hiện. Khối lượng công việc của NFF không giảm, nhưng thời gian cậu trực tiếp ở trong các cụm hệ thống ít hơn hẳn trước kia. Cơ chế tóm tắt vì thế ngày càng quan trọng.

NiFoFo nhìn bản báo cáo trước mặt một lúc rồi khẽ nói:

“Chắc bây giờ em ấy cũng đã khởi hành rồi.”

NiFoFo nhìn thanh cuộn dài trên màn hình. “NFF.”

“Đang lắng nghe.”

“Đây là bản tóm tắt?”

“Xác nhận.”

“Ngươi chắc chứ?”

Một khoảng trễ rất ngắn xuất hiện. “Xác nhận. Dữ liệu thô đã được loại khỏi lớp hiển thị hiện tại.”

Điều khó chịu nhất là NFF hoàn toàn đúng. Nếu yêu cầu dữ liệu thô, thứ hiện ra sẽ không còn là một tài liệu có thể đọc theo nghĩa thông thường, mà là hàng triệu phép tính, nhật ký vận hành, log cảm biến, chuỗi mô phỏng, nhánh giả thuyết, bản ghi sửa chữa và vô số dữ kiện mà một cá nhân không thể hấp thụ chỉ bằng cách ngồi đọc. Thứ trước mặt cậu đã là phiên bản được nén xuống mức “con người có thể xử lý”.

NiFoFo đọc tiếp. Phần vận hành cơ sở kết thúc bằng các điểm cần theo dõi trong năm tới: cụm phụ trợ cần thay linh kiện, một trạm cảm biến có sai số tăng nhẹ, hai tuyến thu gom vật chất nên điều chỉnh quỹ đạo và một kho dự phòng cần tái phân bổ. Không mục nào đủ nghiêm trọng để yêu cầu cậu trực tiếp can thiệp.

Tiếp theo là Cognis. Các mô hình liên quan tới cổng được đặt cạnh mô phỏng cấu trúc giới tầng; dữ liệu từ The End được đối chiếu với các vùng Dị Linh từng khảo sát; Viễn Cổ Đại Lục và Vạn Tinh Giới có những nhóm hồ sơ riêng. Bên dưới mỗi nhóm là mức tin cậy, mức thay đổi, các giả thuyết đã bị loại và những giả thuyết chưa đủ dữ liệu.

NiFoFo đọc theo xu hướng thay vì từng con số. Chỗ nào độ tin cậy thay đổi mạnh, cậu dừng lại. Chỗ nào một giả thuyết bị loại hoàn toàn, cậu mở lý do. Chỗ nào Cognis đánh dấu bất thường nhưng chưa nâng thành cảnh báo, cậu đọc cả phụ lục.

Sau đó là Memoria. Nếu báo cáo của Cognis dài vì số lượng giả thuyết, báo cáo của Memoria dài vì NFF không thích quên. Những tín hiệu yếu, thiết bị xuất hiện sai nơi, những mảnh dữ liệu cá nhân quá vụn để thành một câu chuyện và cả tên của những người đã chết vẫn được giữ lại khi chưa có cơ sở để kết luận chúng vô nghĩa. NiFoFo không mở tất cả. Cậu kiểm tra tính toàn vẹn, những hồ sơ có nguy cơ hỏng và các mảnh dữ liệu cần phục hồi.

Beacon, Aegis và Repair nối tiếp nhau. Repair còn có một phần riêng về số thiết bị NiFoFo đã làm hỏng.

“Phần này có cần thiết không?”

“Có.”

“Vì sao?”

“Dữ liệu hư hại thiết bị có giá trị đối với dự báo tiêu hao, thiết kế dự phòng và điều chỉnh giới hạn vận hành.”

Một mục được ghi chú rằng nguyên nhân hư hại “có thể tránh được”. NiFoFo yêu cầu xóa ghi chú. NFF từ chối vì nó có giá trị thống kê và vì nguyên tắc lưu trữ hiện hành do chính cậu thiết lập không cho phép xóa dữ liệu vận hành có ích.

NiFoFo nhìn giao diện một lúc rồi kéo xuống. “Giữ đi.”

Decoy báo về các lớp che giấu phải thay đổi để không tạo thành pattern lặp. Mandate giải trình từng lần can thiệp trực tiếp, phạm vi quyền hạn đã sử dụng và rủi ro phát sinh. NiFoFo không bỏ qua phần nào. Nếu NFF được phép tự hành trong giới hạn do cậu đặt ra, trách nhiệm của cậu không phải ra lệnh cho từng hành động nhỏ, mà là kiểm tra xem những giới hạn ấy còn đúng hay không. Một hệ thống nguy hiểm đôi khi không phải vì nó làm sai, mà vì nó làm đúng một bộ quy tắc đã lỗi thời.

Cuối cùng là Radix: tình trạng lõi, tính toàn vẹn của dữ liệu nền, các lớp dự phòng và khả năng tiếp tục vận hành nếu NiFoFo mất liên lạc hoặc biến mất khỏi mạng lưới. Cậu đọc phần này hai lần.

Trong báo cáo còn có đánh giá về chương trình thám hiểm đang hình thành quanh tuyến Dị Linh vừa mở lại. NFF ghi nhận rủi ro tăng theo độ sâu. Khả năng một đoàn phải rút khẩn cấp hoặc về sau cần tới sự can thiệp của NiFoFo không thể bị loại trừ, nhưng dữ liệu hiện có chưa đủ để nâng thành cảnh báo. Không có dự báo nào khẳng định một thảm họa sắp xảy ra.

Gần cuối bản tổng hợp là một mục mang tên:

CÁC TƯƠNG QUAN CÓ ĐỘ TIN CẬY THẤP — KHÔNG ĐẠT NGƯỠNG BÁO CÁO ƯU TIÊN

Bên dưới là những mối liên hệ yếu giữa dao động ở các khu vực khác nhau, vài hiện tượng gần cổng, sai lệch nhỏ trong dữ liệu vị diện và các mô hình chưa đủ bằng chứng để đứng cạnh nhau trong bất kỳ báo cáo chuyên ngành nào. Không mục nào tự nó đáng báo động. Một số dòng được giao cho Cognis tiếp tục theo dõi, một số chuyển sang phụ lục.

NFF không xóa chúng, không che giấu chúng và cũng không báo cáo sai. Nhưng ở thời điểm đó, NiFoFo chưa có câu hỏi nào khiến cậu yêu cầu đặt tất cả những dữ kiện ấy cạnh nhau.

Rất lâu sau, màn hình mới hiện chữ “HOÀN TẤT”.

NiFoFo nhìn đồng hồ. “Năm sau, rút ngắn báo cáo.”

“Đã ghi nhận yêu cầu.”

Cậu vừa đứng dậy thì một dòng mới xuất hiện:

“Đề xuất: xác định mức độ rút ngắn cho phép và tiêu chí loại bỏ thông tin.”

NiFoFo nhìn câu đó rồi chậm rãi ngồi xuống.

“…Được.”

Báo cáo thường niên đã kết thúc. Cuộc họp về cách rút ngắn báo cáo thường niên vừa bắt đầu.

NFF có thể gom hàng triệu dòng dữ liệu thành một lớp tổng hợp để một người đọc được. Căn Cứ thì không có đặc quyền ấy. Mỗi chuyến trở về mang theo những mảnh bằng chứng rời rạc, và công việc của con người bắt đầu từ việc ghép chúng lại đủ cẩn thận để một kết luận sai không đi xa hơn một mẫu vật.

Đối với nhóm của Tiến sĩ Mamoru, mỗi lần một đoàn quay trở về mới chỉ là lúc nửa sau của chuyến thám hiểm bắt đầu.

Khu tiếp nhận nghiên cứu nhanh chóng đầy những hộp mẫu đất, bụi, nước đọng, mảnh tường, kim loại bị ăn mòn, bộ phận máy móc chưa xác định và mô lấy từ những sinh vật bị hạ trên đường. Đi cùng chúng là hình ảnh hiện trường, bản ghi cảm biến, thông số môi trường, tín hiệu năng lượng, log thiết bị, ghi chép chiến đấu, vị trí tương đối dọc tuyến và lời kể của người trực tiếp có mặt.

Một mảnh kim loại có rất ít giá trị nếu bị tách khỏi nơi nó được lấy. Một đoạn mô sinh vật không nói được nhiều nếu không biết cá thể xuất hiện ở khu vực nào và phản ứng ra sao trước khi giao chiến. Một thiết bị cổ đại có thể gần như mất ý nghĩa nếu bị tháo khỏi tường trước khi vị trí, hướng đặt và quan hệ của nó với cấu trúc xung quanh được ghi lại.

Vì thế, câu hỏi đầu tiên của Mamoru hiếm khi là “Thứ này là gì?”

Ông thường hỏi: “Nó được tìm thấy ở đâu?”

Rồi mới tới: “Nó nằm như thế nào?”, “Xung quanh có gì?”, “Ai là người chạm vào trước?”, “Có thứ tương tự trong những đợt trước không?” và “Điều gì xảy ra ngay trước khi nó phản ứng?”

Mamoru không tự mình xử lý mọi mẫu vật. Các nhóm chuyên môn về vật liệu, sinh học, năng lượng, y tế và lưu trữ dữ liệu làm việc song song. Vai trò của ông nằm ở việc kéo kết quả từ những bàn riêng biệt lại gần nhau. Một nhóm có thể phát hiện cấu trúc kim loại chịu ăn mòn tốt hơn dự đoán; nhóm khác nhận ra hai sinh vật có ngoại hình khác nhau lại chia sẻ đặc điểm sâu; một kỹ thuật viên thấy thiết bị cổ chỉ phản ứng trong dải năng lượng hẹp; còn báo cáo thực địa ghi rằng sinh vật quanh khu vực ấy ít xuất hiện hơn các đoạn liền trước.

Từng dữ kiện riêng lẻ chưa đủ để kết luận. Mamoru buộc chúng phải đứng cạnh nhau trước khi bất kỳ ai được phép nói rằng mình đã hiểu.

Ở những đợt đầu, cụm từ xuất hiện nhiều nhất trong bản ghi của ông là chưa xác định. Một mẫu không đại diện cho cả loại vật liệu. Một cá thể không định nghĩa được tập tính của cả nhóm sinh vật. Một căn phòng không đủ để suy ra chức năng của một khu kiến trúc. Một thiết bị còn phản ứng cũng chưa có nghĩa nó vẫn thực hiện đúng chức năng ban đầu.

Có người từng đùa rằng nếu gom tất cả những dòng “chưa đủ dữ liệu” do Mamoru ghi lại, họ có thể đóng thành sách. Ông chỉ đáp một quyển sách toàn những điều chưa biết vẫn tốt hơn một trang kết luận sai.

Khi đoàn thứ hai rồi đoàn thứ ba trở về, giá trị của cách làm ấy bắt đầu lộ rõ. Mẫu của đợt sau được đặt cạnh đợt trước. Những chi tiết tưởng như vô nghĩa bắt đầu lặp lại. Một loại vật liệu xuất hiện ở nhiều vị trí dọc tuyến. Những cấu trúc giống thiết bị có xu hướng nằm trong các không gian mang bố cục tương tự. Một số sinh vật khác biệt về hình dạng lại có dấu hiệu sinh học khiến cách phân loại cũ phải viết lại. Những vùng từng được xem là tương đối an toàn cũng phải đổi đánh giá khi dữ liệu hành vi của nhiều đợt được chồng lên cùng bản đồ.

Một lần, chỉ vì một đoàn ghi thêm câu “không gặp sinh vật ở đoạn này”, Mamoru yêu cầu mở lại dữ liệu của ba đợt trước. Sau nhiều giờ đối chiếu, nhóm xác nhận khu vực ấy thật sự có tần suất xuất hiện sinh vật thấp bất thường. Không ai biết tại sao. Mamoru cũng không biết. Nhưng từ đó, các đoàn sau được yêu cầu ghi kỹ hơn trạng thái môi trường mỗi khi đi qua, thay vì chỉ coi nơi đó là một đoạn đường yên tĩnh.

Một chi tiết trở thành câu hỏi. Câu hỏi trở thành mục theo dõi. Mục theo dõi đi vào cách người sau quan sát hiện trường.

Dần dần, yêu cầu của Mamoru trở thành một phần trong khâu chuẩn bị. Cấu trúc đã biết phải được ghi vị trí và hướng đặt, không chỉ chụp lại. Hành vi sinh vật phải bao gồm hướng chúng đến, hướng chúng rút và điều xảy ra ngay trước khi thay đổi. Không gian còn nguyên không được tùy tiện xáo trộn. Ngay cả một thiết bị không phản ứng cũng phải được lưu, vì kết quả âm tính có thể trở nên quan trọng khi đặt cạnh mười lần khác.

Ông không cho phép câu “tôi thấy chỗ đó đáng sợ” trở thành bằng chứng, nhưng cũng không muốn cảm giác ấy biến mất khỏi hồ sơ. Nếu nhiều người không trao đổi với nhau cùng có phản ứng tại một vị trí, Mamoru muốn biết để sau đó tìm nguyên nhân bằng thứ có thể đo được.

Những gì nhóm ông gửi ra không chỉ là báo cáo nghiên cứu. Đó là ký ức đã được chuẩn hóa của những người từng đi trước. Mamoru không khiến thành trì bớt nguy hiểm; ông khiến nguy hiểm của nó ngày càng bớt vô danh.

Chính cách làm chậm và có phần khó chịu ấy cuối cùng tạo ra giá trị. Khi đủ nhiều dữ kiện được ghi lại theo cùng một chuẩn, một hiện tượng vốn rất dễ bị bỏ qua bắt đầu lặp lại với tần suất không thể tiếp tục xem là ngẫu nhiên.

Một trong những phát hiện đầu tiên đủ chắc để đi từ “hiện tượng lạ” thành một kết luận nghiên cứu lại không đến từ một căn phòng bí mật hay một thiết bị cổ đại còn hoạt động.

Nó đến từ những lần giao chiến rất bình thường.

Trong một đợt khảo sát, một nhóm hạ một sinh vật ngay cạnh một cấu trúc Sculk mà trước đó họ chỉ đánh dấu như một dạng khối tăng sinh khác biệt với phần nền xung quanh. Ngay sau khi sinh vật chết, cấu trúc ấy phản ứng.

Các đường Sculk gần đó sáng lên.

Những vein mảnh chạy trên nền co giật trong vài nhịp rồi lan thêm sang phần đá chưa bị phủ. Mức thay đổi không lớn. Nếu không có người đang ghi hình hiện trường, rất có thể nó chỉ bị xem như một biến động bình thường của môi trường.

Nhóm không đứng lại để thử thêm. Họ đánh dấu vị trí, ghi thời điểm, chụp lại cấu trúc rồi mang dữ liệu về. Ở Căn Cứ, Mamoru chưa kết luận gì; một hiện trường chỉ cho thấy một hiện tượng. Nhưng trong những đợt sau, điều tương tự tiếp tục xuất hiện.

Có lần một sinh vật bị hạ cách một cấu trúc cùng loại vài mét. Khối Sculk phản ứng gần như ngay lập tức. Một lần khác, giao chiến kết thúc xa hơn và phản ứng yếu hơn rõ rệt. Có khu vực từng xảy ra nhiều cuộc chạm trán thì lớp Sculk quanh những cấu trúc ấy dày hơn hẳn những đoạn lân cận.

Từ đó, các đoàn được yêu cầu thay đổi cách ghi nhận. Mỗi khi gặp một cấu trúc cùng loại, họ phải đánh dấu vị trí chính xác; nếu có sinh vật chết gần đó, khoảng cách cũng phải được ghi lại, còn ảnh trước và sau sự kiện được giữ riêng để đối chiếu.

Nếu thiết bị năng lượng còn hoạt động, toàn bộ biến động phải được lưu thay vì chỉ lấy giá trị cao nhất.

Không ai chủ động giết sinh vật chỉ để thử.

Ancient City cung cấp quá đủ những cuộc chạm trán ngoài ý muốn để họ không cần tạo thêm một cuộc nào.

Sau nhiều lần, pattern bắt đầu đủ rõ.

Những cấu trúc ấy được xếp thành một nhóm riêng trong hồ sơ và được gọi theo chức năng quan sát được:

Catalyst.

Tên gọi không có nghĩa Căn Cứ đã biết nó thật sự là gì.

Nó chỉ mô tả thứ họ nhìn thấy lặp lại đủ nhiều:

một cấu trúc Catalyst ở gần một sinh vật vừa chết sẽ phản ứng, và sau phản ứng ấy, Sculk quanh khu vực có thể tăng trưởng hoặc chuyển hóa thêm một phần vật chất môi trường.

Mamoru cho mở lại toàn bộ bản đồ những tháng đầu. Vị trí Catalyst được chồng lên những khu Sculk hóa nặng, rồi tới vị trí các cuộc giao chiến và những nơi có dấu vết cho thấy từng xảy ra tử vong tập trung từ rất lâu trước khi đoàn thám hiểm tới. Không phải mọi điểm đều khớp hoàn hảo, nhưng mức tương quan đủ lớn để không thể bỏ qua.

Một kỹ thuật viên nhìn lớp bản đồ cuối cùng rồi nói:

“Vậy những chỗ bị phủ nặng nhất…”

Mamoru không nhìn khỏi màn hình.

“Có khả năng từng là những nơi chết nhiều nhất.”

“Catalyst dùng cái chết để tạo thêm Sculk?”

Mamoru im vài giây.

“Ta biết hai việc xảy ra cùng một chuỗi.”

Ông chỉ vào dữ liệu.

“Cấu trúc sống sụp đổ.”

Một lớp biểu đồ được bật lên.

“Có biến động Life Energy và dư lượng.”

Ông chuyển sang lớp tiếp theo.

“Catalyst phản ứng.”

Rồi lớp cuối.

“Sculk mở rộng.”

Người kỹ thuật viên chờ phần kết luận.

Mamoru nói:

“Cơ chế này lặp lại đủ nhiều để không còn là trùng hợp.”

“Vậy nó lấy Life Energy?”

“Có liên quan trực tiếp.”

“Là có hay không?”

“Là chúng ta đo được biến động Life Energy đồng thời với phản ứng của Catalyst. Còn bên trong nó thực sự làm gì với phần năng lượng ấy thì chưa biết.”

Đó trở thành ranh giới của báo cáo chính thức.

Căn Cứ chỉ có thể khẳng định rằng tử vong của sinh vật, biến động năng lượng liên quan tới cấu trúc sống, phản ứng của Catalyst và sự mở rộng của Sculk nằm trong cùng một chuỗi hiện tượng. Bản chất của Catalyst, cách nó tương tác với năng lượng và vai trò thật sự của nó trong Ancient City vẫn chưa được xác định.

Dẫu vậy, phát hiện ấy đủ để họ đọc lại bản đồ theo một cách khác. Những vùng Sculk hóa nặng được đối chiếu với vị trí Catalyst, dấu vết giao chiến và những nơi có khả năng từng xảy ra tử vong tập trung.

Từ đó, Catalyst trở thành một dữ kiện quan trọng trong giả thuyết về quá trình Ancient City suy tàn — không phải lời giải hoàn chỉnh cho cách thành phố đã chết.

Trong một đợt trở về sau đó, người được Mamoru giữ lại sau phần báo cáo chính thức là Cunhihihihi.

Cun xuất hiện ở cửa khu nghiên cứu khi phần lớn mẫu vật đã được bàn giao. Bộ trang bị nặng đã tháo gần hết, trên tay chỉ còn chai nước uống dở.

“Nghe nói ông tìm tôi?”

Mamoru vẫn nhìn màn hình. “Tôi nhắn cho anh gần hai mươi phút trước.”

“Bên kiểm tra trang bị giữ tôi lại. Họ soi từng cái khóa còn kỹ hơn ông soi báo cáo.”

“Anh muộn mười bảy phút.”

Cun nhìn đồng hồ trên tường. “Ông thật sự tính à?”

“Không. Đồng hồ tính.”

Cun cười, kéo ghế ngồi xuống. “Rồi rồi. Lỗi tôi. Thế đám đồ bọn tôi vác về làm các ông vui chưa?”

“Phần lớn đang phân loại.”

“Có gì hay không?”

“Có.”

Cun chờ. Mamoru không nói tiếp.

“…Hết rồi?”

“Anh hỏi có hay không.”

Cun dựa lưng vào ghế. “Đúng là nói chuyện với ông không được thừa một chữ.”

Mamoru kéo bản đồ tuyến của đoàn Cun sang một bên. Không có nhánh nào tạo thành lối ra khác; toàn bộ dữ liệu kéo dài theo một trục duy nhất đi sâu vào thành trì. Ông chỉ vào đoạn gần cuối phạm vi mới khảo sát.

“Chỗ này. Báo cáo ghi các anh gặp ba cá thể.”

“Ừ.”

“Không giao chiến.”

“Không cần. Chúng chạy trước.”

“Ngay khi thấy các anh?”

Cun định gật rồi dừng lại. “Không hẳn. Trước lúc bọn tôi lộ vị trí, chúng đã có vẻ không yên. Đi qua đi lại. Một con cứ quay về phía sâu hơn. Đến khi thấy bọn tôi thì cả ba mới chạy ngược lại.”

“Có âm thanh gì?”

“Không nhớ có gì đặc biệt.”

“Chúng có tư thế chuẩn bị tấn công?”

“Không. Con gần nhất có nhìn về phía bọn tôi, nhưng cảm giác giống nó đang chọn đường chạy hơn.”

“Anh xác định bằng gì?”

“Kinh nghiệm? Đừng nhìn tôi thế. Chính ông gọi tôi tới hỏi mấy thứ không nằm trong cảm biến mà.”

Mamoru im lặng chờ.

Cun uống một ngụm nước. “Tôi không nghĩ chúng sợ bọn tôi.”

Cây bút của Mamoru dừng lại. “Vì?”

“Có một con phát ra tiếng trước khi chạy. Tôi nghe đủ kiểu tiếng của mấy thứ trong đó rồi. Lúc gào, lúc rít, lúc lao vào đánh. Cái này không giống.”

“Giống gì?”

Cun im vài giây. “Giống hoảng.”

Mamoru nhìn vùng chưa khảo sát nằm sâu hơn. “Các anh kiểm tra chưa?”

“Có chứ. Ông nghĩ tôi thấy thế rồi quay đầu về luôn à?”

Mamoru nhìn anh vài giây.

“Cái nhìn đó là sao?”

“Tôi đang nhớ vài lần trước.”

“Đấy là chuyện từ bao giờ rồi.”

“Không lâu đến mức tôi quên.”

“Có một lần thôi.”

“Hai.”

“Lần kia là rút lui chiến thuật.”

“Anh gọi thế thì cứ thế.”

Cun bật cười, rồi chỉ vào đoạn cuối tuyến. “Bọn tôi đi thêm một quãng. Không thấy sinh vật lớn, thiết bị không báo phản ứng năng lượng đáng kể. Nhưng tôi cho đội dừng.”

“Tại sao?”

“Không thích.”

“Đó không phải thuật ngữ chuyên môn.”

“Thì tôi có phải nhà khoa học đâu.”

“Anh vẫn phải có lý do.”

Cun gõ ngón tay lên vị trí ba sinh vật. “Chúng.”

Mamoru ghi thêm một dòng. “Quyết định hợp lý.”

Cun lập tức ngẩng lên. “Ông vừa khen tôi à?”

“Tôi nói quyết định hợp lý.”

“Thì là khen. Hiếm lắm. Tôi nhận.”

Mamoru bỏ qua, mở hình một cấu trúc hình hộp đã mất gần nửa lớp vỏ. “Cái này anh lấy?”

“Ừ.”

“Những cái tương tự?”

“Vẫn còn gắn vào tường. Tôi bảo mọi người đừng tháo.”

Mamoru hơi nhướng mày. “Tiến bộ.”

“Khoan. Lần này chắc chắn là khen.”

“Đừng quen.”

Cun nhìn qua lớp kính, nơi các mẫu vật được xếp thành từng khay có định danh và vị trí thu hồi. “Nơi đó kỳ thật. Có đoạn bị phá đến chẳng còn gì. Đi sâu thêm lại có cả dãy phòng gần nguyên. Thiết bị vẫn nằm đúng vị trí. Đồ đạc có cái đổ, nhưng không giống bị lục tung. Nó giống như nơi đó dừng lại giữa chừng hơn là bị bỏ đi từ từ.”

Mamoru mở những báo cáo trước. Từng ghi chú riêng lẻ đều yếu, nhưng giờ chúng không còn đứng riêng. Ông kéo chúng về cùng màn hình rồi đánh dấu liên kết.

“Có người khác cũng thấy vậy?” Cun hỏi.

“Có vài nhận xét tương tự.”

“Vậy là tôi không tưởng tượng.”

“Chưa chắc. Nhưng ít nhất anh không phải người duy nhất tưởng tượng cùng một thứ.”

Cun cười. “Nghe từ ông thì vậy cũng tính là tin tốt.”

Mamoru nhìn lại bản đồ. “Lần tới, nếu anh đi tiếp, đừng chỉ chú ý thứ có thể mang về. Ghi cửa mở hay đóng, đồ vật có bị di chuyển không, thiết bị còn ở vị trí sử dụng hay đã được cất. Và quan trọng nhất, đừng tháo thứ gì khỏi cấu trúc chỉ vì nó vừa tay.”

“Câu cuối dành riêng cho tôi đúng không?”

“Anh tự hiểu.”

“Còn đám sinh vật?”

“Xem chúng di chuyển theo hướng nào, tránh đoạn nào, thay đổi hành vi lúc nào. Nếu một sinh vật sống ở đó lâu hơn chúng ta lại quyết định quay đầu tại một vị trí, tôi muốn biết trước khi người của chúng ta đi qua vị trí ấy.”

“Ông nghĩ chúng biết thành phố này?”

“Chúng tồn tại ở đó. Chỉ riêng việc ấy đã khiến hành vi của chúng đáng để học.”

“Ông không đoán thử à?”

“Tôi vẫn đoán.”

“Thật?”

“Sau đó tôi tìm cách chứng minh mình đoán sai.”

Cuộc trò chuyện kết thúc mà không có đáp án cho trạng thái hoảng sợ của ba sinh vật. Mamoru chuyển lời kể của Cun từ ghi chú cá nhân sang danh sách hành vi cần theo dõi, hạ độ tin cậy của một giả thuyết cũ sau khi nhận kết quả mẫu mới và thêm yêu cầu cho đợt kế tiếp.

Ngày hôm sau, những chỉnh sửa ấy đi vào bản tổng hợp dành cho các nhóm chuẩn bị xuống thành trì. Một người sẽ đọc cảnh báo và không chạm vào thứ đoàn trước suýt tháo. Một người khác sẽ nhìn kỹ hơn khi sinh vật đột ngột quay đầu. Quan sát của một cá nhân trở thành câu hỏi của đội nghiên cứu; một mẫu vật trở thành quy trình; một lần sống sót trở thành kinh nghiệm có thể truyền lại.

Nếu các đoàn thám hiểm là đôi mắt của nhân loại trong Ancient City, Mamoru là người khiến những ánh nhìn riêng lẻ ấy trở thành một trí nhớ chung.

Mỗi kết luận mới lại trở thành một yêu cầu mới cho đoàn kế tiếp, rồi quay trở lại Căn Cứ dưới dạng dữ liệu để tiếp tục được kiểm tra. Chu trình ấy lặp đủ lâu để việc đi vào Ancient City không còn mang cảm giác của một chuyến thám hiểm đơn lẻ. Nó trở thành một chương trình kéo dài qua nhiều tháng — trong khi ở bên ngoài, những tháng ấy vẫn được đo bằng tiến độ công trình, mùa mưa, lượng vật tư và những việc không ai nghĩ sẽ được ghi vào lịch sử.

Các đợt khảo sát nối tiếp nhau, còn đời sống bên ngoài tiếp tục đổi trạng thái theo cách chậm hơn. Khi công trường ngoài trời phải dừng vì mưa, kho vận bận hơn, các nhóm sản xuất tranh thủ bảo trì và những người hết việc trực tiếp tản về khu sinh hoạt. Ở phía tây nam, ánh sáng từ Nhà Thờ Cá Nóc phản chiếu lên mặt nước. Một cộng đồng cũ từ Địa Cầu, những hệ thống farm tối ưu, kho vật phẩm lịch sử, một nhà thờ tôn sùng Cá Nóc, tuyến metro đang xây và những thành viên trẻ vẫn học cách đặt đúng vật liệu vào đúng kho cùng tồn tại mà không cần bị ép vào một bản sắc duy nhất.

Leovu97 và VNwatersheep tiếp tục mang về những tin tức từ bên ngoài. Thông tin đủ quan trọng được chuyển tới người cần biết; phần còn lại được giữ như bối cảnh. Ở một khu khác, TrucHuongCute, BaoBBBB và Bekienbetiteo kiểm lại trang bị sau những đợt hoạt động. Kinh nghiệm của nhóm chiến đấu không biến Làng Cáo thành một tổ chức quân sự, nhưng giúp cộng đồng duy trì thói quen tận dụng bẫy, địa hình và cơ chế rẻ hơn thay vì tiêu hao giáp, thuốc cùng nhân lực vào những cuộc đối đầu không cần thiết.

Metro thử thách một năng lực khác. Trong chiến tranh hay thảm họa, mục tiêu thường rất rõ: sống, giữ phòng tuyến, đưa người về. Còn trong hòa bình, không ai bắt buộc phải xây một tuyến metro. Đó là lựa chọn bỏ thời gian, tiền, tài nguyên và nhân lực vào một thứ chỉ đem lại lợi ích sau một quãng rất dài.

Một cộng đồng chỉ cố sống sót sẽ tích trữ.

Một cộng đồng tin rằng mình còn tương lai mới xây hạ tầng.

Khi trời tối, đèn ở các khu công trình lần lượt bật lên. Dự án vẫn thiếu vốn cho những giai đoạn sau, một số hạng mục có thể phải kéo dài và một số phần chỉ được thực hiện khi nguồn lực cho phép. Không ai trong phòng điều phối nhầm lẫn giữa “chưa làm xong” và “thất bại”. Trong các kho, những món đồ cũ vẫn nằm yên. Trong các farm, vật tư tiếp tục được tạo ra. Người ta ăn uống, sửa đồ, tranh cãi về những việc nhỏ rồi trở về nhà.

Ở nơi rất xa những ánh đèn ấy, Căn Cứ tiếp tục thêm dữ liệu của từng đợt khảo sát vào hồ sơ Ancient City. Việc một đoàn đi vào rồi trở ra đã dần trở thành một nhịp quen thuộc. Không có cảnh báo nào đủ để buộc đời sống bên ngoài phải dừng lại.

Chính sự lặp lại âm thầm ấy làm thay đổi giá trị của dữ liệu. Một đoạn tường từng chỉ là ảnh hiện trường bắt đầu có ý nghĩa khi đặt cạnh hàng chục đoạn tường khác. Một sai lệch cao độ chỉ trở nên đáng chú ý khi toàn bộ bản đồ cùng cho ra một pattern. Ancient City vì thế không được hiểu ra bằng một phát hiện lớn, mà bằng khoảnh khắc rất nhiều chi tiết nhỏ cuối cùng chịu đứng cạnh nhau.

Khi chương trình bước sang những tháng tiếp theo, bản đồ Ancient City đã đủ lớn để người ta không còn nhìn từng căn phòng hay từng đoạn hành lang như những phát hiện riêng lẻ. Vị trí kiến trúc, thiết bị còn sót lại, mẫu vật và dấu vết chiến đấu bắt đầu ghép thành hình dáng của một đô thị hoàn chỉnh, đồng thời làm lộ ra những điều mà ở tháng đầu chưa ai có đủ dữ liệu để nhận thấy.

Một buổi tổng hợp, đội kỹ thuật chồng dữ liệu cao độ của nhiều tuyến khảo sát lên cùng một mô hình. Người phụ trách ban đầu tưởng phần nền đều chỉ phản ánh quy hoạch tốt, nhưng khi phạm vi đo mở rộng, những khu cách nhau rất xa vẫn nằm gần như trên cùng một mặt chuẩn. Họ cho đo lại ở vài tuyến khác, rồi đối chiếu với phần địa tầng lộ ra ở rìa thành phố. Đá tự nhiên bên dưới vẫn có độ dốc, lớp lệch và biến thiên cao độ; sự bằng phẳng của khu đô thị rõ ràng không phải thứ địa hình tự tạo ra.

Kết luận chỉ thật sự được ghi vào hồ sơ sau khi những phép đo độc lập tiếp tục cho cùng một kết quả: mặt nền của Ancient City đã được chuẩn bị có chủ đích ở quy mô cực lớn. Không ai biết nền văn minh này đã san, đào, lấp hay dùng công nghệ gì để tạo ra mặt chuẩn ấy, nhưng chỉ riêng quy mô của nó đã đủ cho thấy trình độ công trình vượt xa một khu định cư phát triển tự phát.

Trên mô hình dựng lại, những tuyến đường, khu sản xuất và cụm công trình vì thế cũng hiện ra rõ hơn. Ở những nơi Sculk xâm thực nặng, sự tương phản càng dễ thấy: một môi trường từng được chỉnh tới mức gần như lý tưởng bị bẻ cong, nâng lõm và thay thế từng mảng bởi một hệ cấu trúc khác.

Trong một lần đối chiếu, một kỹ thuật viên kéo các hồ sơ từng gắn với quân đoàn robot cổ đại và The Corrupted End Dragon lên cùng màn hình. Những mối liên hệ trước đó chỉ nằm rải rác trong nhiều báo cáo giờ xuất hiện đủ thường xuyên để không thể tiếp tục bỏ qua.

“Đủ để nói chúng bắt nguồn từ đây chưa?”

Người phụ trách lắc đầu. “Chưa. Đủ để nói chúng ta phải tiếp tục nhìn theo hướng này.”

Từ đó, Ancient City được giữ như một đầu mối quan trọng của hồ sơ robot, nhưng chưa ai được phép biến mối liên hệ thành kết luận về nguồn gốc công nghệ. Cùng lúc, các đoàn đi sâu hơn ghi nhận mật độ Sculk tăng, tín hiệu khó giữ ổn định và quần thể sinh vật ngày càng khó gom vào một mô hình duy nhất. Có cá thể chủ động tấn công, có cá thể tránh một số khu vực, có nhóm đổi hướng trước khi con người kịp lộ vị trí. Các mẫu sinh học cũng cho thấy những khác biệt chưa thể giải thích bằng cùng một quá trình hình thành.

Không phát hiện nào trong số đó tự giải thích Ancient City đã bị hủy diệt ra sao. Nhưng đặt cạnh nhau, chúng khiến thành phố trở nên lớn hơn và phức tạp hơn rất nhiều so với hình dung của tháng đầu. Việc tiếp tục khảo sát vì thế càng có lý do, đồng thời buộc Căn Cứ phải nghĩ tới một câu hỏi thực dụng hơn: con người có thể ở lại bên trong bao lâu trước khi chính sự hiện diện của mình bắt đầu làm môi trường thay đổi?

Khi các đoàn tiến sâu hơn, những nhóm quái vật xuất hiện giữa các công trình ngày một thường xuyên. Ban đầu chúng vẫn đủ ít để bị xem như một phần bình thường của môi trường: gặp thì tránh, không tránh được thì xử lý rồi tiếp tục khảo sát. Khu vực an toàn phía ngoài dần trở thành điểm tập kết tạm thời; người và vật tư đi vào, mẫu vật cùng thiết bị cần sửa được đưa ra, còn những tuyến đã kiểm tra được bàn giao lại cho nhóm thay ca.

Một buổi đổi ca, nhóm vừa trở về trải bản đồ lên thùng vật tư để người đi tiếp đánh dấu lại đường. Người nhận bản đồ nhìn một tuyến vốn được ghi là tương đối yên tĩnh rồi hỏi vì sao nó vừa bị khoanh thêm cảnh báo.

“Lại có sinh vật ở đó.”

“Nhóm trước đã dọn rồi mà?”

“Ừ. Hôm kia.”

Những cuộc bàn giao như vậy lặp đi lặp lại trong nhiều tuần. Mỗi người chỉ nhìn thấy một phần nhỏ của quá trình, nên việc mật độ sinh vật tăng dần rất khó nhận ra ngay tại hiện trường. Chỉ khi các báo cáo được đặt cạnh nhau, những khu từng yên nhưng liên tục xuất hiện thêm quái vật mới bắt đầu tạo thành một pattern.

Một người trong nhóm tổng hợp kéo log giao chiến lên cạnh bản đồ rồi dừng lại. “Khoan.”

Những lần mật độ tăng rõ nhất thường xuất hiện sau các cuộc giao chiến lớn hoặc những khoảng thời gian hoạt động tạo nhiều tiếng động. Ngược lại, trong những quãng đoàn hạn chế di chuyển và gần như không phải chiến đấu, số sinh vật tiếp cận cũng chậm lại.

“Không phải chúng xuất hiện ngẫu nhiên quanh chỗ chúng ta ở,” người đó nói. “Chúng đang bị kéo tới.”

Kết luận ấy không đến từ một lần chạm trán cụ thể. Chính việc nhiều nhóm thay nhau hoạt động suốt nhiều tuần mới làm lộ ra chuỗi phản hồi: tiếng động thu hút thêm sinh vật; giao chiến với số sinh vật mới lại tạo thêm tiếng động, rồi tiếp tục kéo những nhóm khác từ xa hơn tới. Nếu giữ nguyên cách khảo sát hiện tại, áp lực quanh khu vực hoạt động chỉ còn tăng theo thời gian.

Ngay sau khi kết luận đó được xác nhận, phương án thám hiểm hiện tại bị dừng lại. Những nhóm nhỏ đang hoạt động rải rác được gọi về, lực lượng được tập trung trở lại thay vì tiếp tục duy trì nhiều điểm khảo sát riêng lẻ. Các mẫu vật, dữ liệu và thiết bị quan trọng được thu gom trước, sau đó đoàn bắt đầu rút theo những tuyến đường đã được đánh dấu trong suốt nhiều tuần hoạt động.

Việc rút lui vẫn nằm trong khả năng kiểm soát, nhưng không còn giống những lần thay ca trước đó. Đây là lần đầu tiên toàn bộ lực lượng chủ động kết thúc một đợt khảo sát kéo dài vì nhận ra môi trường quanh mình đang thay đổi theo cách nguy hiểm. Số lượng quái vật đã bị thu hút tới các khu vực lân cận đủ lớn để cả đoàn phải hạn chế những cuộc giao chiến không cần thiết, giữ đội hình và ưu tiên đưa người cùng dữ liệu trở lại khu vực an toàn.

Sau khi rút khỏi phần sâu của thành phố, họ tập trung tại khu vực tương đối an toàn ở phía ngoài để kiểm tra quân số, thương tích, mẫu vật và lượng dữ liệu thu được. Qua báo cáo sơ bộ, đoàn thống nhất rằng việc tiếp tục tiến sâu với cách tổ chức hiện tại không còn phù hợp. Vấn đề không nằm ở một cuộc chạm trán riêng lẻ, mà ở việc một lực lượng hoạt động lâu trong thành phố sẽ dần tự kéo ngày càng nhiều quái vật về khu vực của mình.

Đoàn rút toàn bộ nhân sự về Căn Cứ nhưng không mang tất cả thiết bị theo. Một số thiết bị khảo sát, vật tư và dụng cụ không cần thu hồi ngay được giữ lại trong khu vực an toàn. Nơi này đã có sẵn một phần điều kiện cần thiết để hỗ trợ những chuyến quay lại sau đó. Việc để lại thiết bị cho thấy họ chưa từ bỏ việc thám hiểm thành phố; họ chỉ tạm dừng để đánh giá lại cách tiếp cận.

Quyết định rút lui khép lại một giai đoạn khảo sát nhưng chưa tạo ra cảm giác thất bại. Người ta vẫn để lại thiết bị, vẫn giữ bản đồ và vẫn nói về lần quay lại tiếp theo. Chỉ có nhịp của chương trình tạm thời chậm xuống, đủ để khoảng cách giữa Ancient City và đời sống bình thường hiện ra rõ hơn một lần nữa.

Trong lúc đoàn thám hiểm rút khỏi thành phố và những báo cáo đầu tiên được chuyển về Căn Cứ, phần còn lại của thế giới không vì thế mà dừng lại.

Ở Làng Cáo, tuyến metro vẫn tiếp tục nuốt vật liệu theo từng ngày. Những phần đã hoàn thành đủ để nhìn ra hình dạng của tuyến đường, nhưng càng kéo dài, công việc càng bộc lộ những vấn đề không xuất hiện trên bản vẽ ban đầu. Có đoạn phải điều chỉnh lại lượng vật liệu vì địa hình khác dự kiến; có khu vực tiến độ chậm lại chỉ vì một cụm farm cung cấp nguyên liệu cần tạm dừng để bảo trì. Kho vận phải liên tục cân bằng giữa nhu cầu của công trình và lượng tài nguyên dành cho sinh hoạt thường ngày.

Một buổi sáng, Yumeii và Miunee mất gần hết thời gian chỉ để phân lại một lô vật liệu vừa được đưa về sai khu chứa. Không có sự cố lớn nào xảy ra, nhưng nếu để nguyên, nhóm xây dựng ở phía ngoài sẽ phải chờ thêm một chuyến vận chuyển khác. Ở khu sản xuất, Koronox và Thangteter lại tháo một phần cơ cấu của một hệ thống đã chạy quá lâu, thay những bộ phận bị lệch rồi cho máy chạy thử nhiều vòng trước khi trả nó về nhịp cũ. Công việc đều nhỏ đến mức không ai xem chúng là sự kiện đáng nhớ. Nhưng nếu không có những việc như vậy, những công trình lớn hơn sẽ đơn giản là ngừng lại.

Mưa vẫn là thứ có thể phá hỏng lịch làm việc dễ hơn bất kỳ cuộc tranh luận nào trong phòng điều phối. Một đợt mưa kéo dài buộc nhóm ngoài trời thu dụng cụ sớm, che phần vật liệu chưa lắp và chuyển một số thiết bị vào khu kín. Ngày hôm sau, khi trời vừa tạnh, người ta lại quay ra kiểm tra xem phần nào còn dùng được, phần nào phải làm lại. Những thành viên trẻ của Làng Cáo Con theo các nhóm kỹ thuật, ban đầu chỉ làm những việc đơn giản như chuyển vật liệu, đánh dấu kho hoặc giữ dụng cụ, rồi dần được giao những phần việc phức tạp hơn khi đã quen với nhịp vận hành.

Nhà Thờ Cá Nóc vẫn sáng đèn vào buổi tối. Các cửa hàng vẫn mở. Người ta vẫn tranh luận về chuyện vật liệu nên ưu tiên cho công trình nào, một hệ thống farm có đáng để sửa tiếp hay nên thay mới, và tuyến metro bao giờ mới đủ hoàn chỉnh để khiến công sức bỏ ra trở nên đáng giá. Ở đây, những tin tức từ Căn Cứ chỉ xuất hiện thành từng mẩu trong các cuộc trao đổi. Ancient City vẫn còn rất xa đối với phần lớn người đang sống cuộc đời thường ngày của mình.

Sự đối lập ấy kéo dài thêm một quãng. Ở một nơi, con người vừa chủ động rút khỏi một thành phố cổ sau nhiều tuần hoạt động vì nhận ra môi trường quanh mình đang thay đổi theo cách nguy hiểm. Ở một nơi khác, họ vẫn xây thêm đường, sửa máy, kiểm kho và chuẩn bị cho những thứ chỉ có ích nếu ngày mai vẫn tiếp tục giống một ngày bình thường.

Nếu ở Làng Cáo, sự tiếp diễn của đời sống hiện ra qua những công việc nhỏ mà ai cũng có thể nhìn thấy, thì ở một trung tâm lớn hơn như Elo Civil, cùng một sự ổn định lại mang dáng vẻ khác. Ở đó, điều đáng chú ý không phải thứ gì ngừng vận hành, mà là một con người dần ít xuất hiện trong khi cả bộ máy vẫn tiếp tục chạy như thể chẳng có gì thay đổi.

Ở Elo Civil, guồng máy công nghiệp vẫn tiếp tục chạy với nhịp gần như không đổi.

Các phân xưởng vẫn nhận nguyên liệu. Những chuyến hàng vẫn rời kho. Các bộ phận khai thác, vận chuyển và sản xuất vẫn gửi số liệu lên theo chu kỳ. Một số cuộc họp trước đây thường có Elosie xuất hiện trực tiếp giờ được giao cho những người khác xử lý; những hạng mục từng cần cậu đưa ra quyết định cuối cùng cũng dần được chuyển xuống cho các bộ phận có đủ thẩm quyền tự giải quyết.

Ban đầu, gần như không ai xem đó là chuyện đáng chú ý. Elo Civil đã lớn đến mức người đứng đầu không thể có mặt ở mọi nơi, còn việc phân quyền vốn có thể được hiểu đơn giản là dấu hiệu của một tổ chức đang trưởng thành. Một dây chuyền không cần Elosie đứng cạnh vẫn chạy. Một phân xưởng có thể tự xử lý sự cố mà không phải chờ chỉ thị. Một cuộc họp kết thúc mà cậu không xuất hiện cũng không khiến sản lượng ngày hôm đó giảm xuống.

Nhưng rồi một cuộc họp trở thành vài cuộc. Một lần cử người thay mặt trở thành chuyện lặp lại. Những người vốn thỉnh thoảng còn gặp Elosie trực tiếp bắt đầu nhận thông tin qua các tầng trung gian nhiều hơn. Một số lịch làm việc có tên cậu được điều chỉnh trước giờ bắt đầu; có nơi chỉ nhận được quyết định cuối cùng qua hệ thống mà không còn biết Elosie đã xem nó ở đâu hay vào lúc nào.

Đến một lúc, câu hỏi trong Elo Civil không còn chỉ là:

“Elosie đang bận việc gì?”

Mà bắt đầu chuyển thành:

“Lần cuối có người thực sự gặp cậu ấy là khi nào?”

Không ai đưa ra được một câu trả lời thống nhất.

Có người nói vừa thấy Elosie ở khu trung tâm; người khác lại chắc chắn cậu đang kiểm tra một cơ sở rất xa. Tin về một dự án kín, một chuyến công tác hay thậm chí một sự cố nội bộ lần lượt xuất hiện rồi tự mâu thuẫn với nhau.

Càng truy ngược nguồn, các lời kể càng mất điểm bám. Người nói đã thấy Elosie thực ra chỉ nhìn từ xa; người khác chỉ nghe tên cậu qua đồng nghiệp; một vài lịch làm việc được truyền miệng giữa kho, phân xưởng và trung tâm nhưng không nơi nào xác nhận chúng bắt đầu từ mình.

Điều khiến những lời đồn kéo dài là Elo Civil vẫn vận hành gần như bình thường. Không có tuyên bố rời chức, không có thông báo tai nạn, không có khủng hoảng lãnh đạo. Các phân xưởng vẫn sản xuất, báo cáo vẫn được duyệt và những người đã được giao quyền vẫn tiếp tục xử lý công việc.

Sau cùng, điều duy nhất có thể xác nhận là:

Elosie đang xuất hiện ít đi một cách rõ rệt.

Còn cậu ở đâu và đang làm gì, không ai bên ngoài vòng thông tin cần thiết có đủ dữ kiện để trả lời. Những lời đồn không được giải đáp; chúng chỉ dần chìm xuống vì mọi hướng lần theo đều đi tới ngõ cụt.

Những lời đồn quanh Elosie không dẫn tới câu trả lời nào, và cũng không đủ để kéo sự chú ý của Căn Cứ khỏi Ancient City. Trong lúc một khoảng trống khác đang âm thầm hình thành bên trong Elo Civil, các nhóm nghiên cứu và chiến đấu đã quay lại với câu hỏi gần hơn trước mắt: sau lần chủ động rút lui vừa rồi, họ sẽ trở lại thành phố theo cách nào.

Sau khi dữ liệu của đợt khảo sát kéo dài được đưa về Căn Cứ, không ai đề nghị bỏ Ancient City. Phần sâu vẫn còn quá nhiều thứ chưa được khảo sát; vấn đề nằm ở cách họ đã cố duy trì nhiều nhóm nhỏ bên trong quá lâu.

Trong buổi bàn phương án tiếp theo, bản đồ những tháng vừa qua được trải rộng trên màn hình. Một vài tuyến từng dùng để thay ca vẫn còn nguyên, những tuyến khác đã bị đánh dấu lại vì mật độ sinh vật tăng. Có người đề nghị tiếp tục cách cũ nhưng rút ngắn thời gian mỗi nhóm ở lại.

Cun nhìn bản đồ một lúc rồi lắc đầu. “Vẫn là giữ người trong đó đủ lâu để mọi thứ quanh mình dồn tới.”

“Vậy anh muốn làm thế nào?”

“Đi sâu hơn trong một lần, nhưng giữ đội hình gọn. Đường rút phải được kiểm tra từ đầu, nhóm khảo sát không tách quá xa người bảo vệ, và thứ gì không đáng để dừng lại thì bỏ qua. Chúng ta vào, lấy dữ liệu cần lấy rồi rời đi trước khi mật độ quanh tuyến kịp tăng lại.”

Phương án sau đó được xây quanh nguyên tắc ấy. Khu vực an toàn cũ tiếp tục làm điểm tập kết để tận dụng thiết bị đã để lại; các tuyến đã khảo sát được dùng làm xương sống cho đường tiến vào và đường rút. Những khu có mật độ quái vật cao được đánh dấu để tránh nếu không thật sự cần thiết, còn lực lượng được bố trí đủ để bảo vệ nhóm khảo sát mà không phải dàn mỏng thành nhiều điểm hoạt động độc lập.

Đó không phải một kế hoạch liều lĩnh hơn chỉ vì mục tiêu nằm sâu hơn. Trái lại, nó được dựng từ chính những gì đợt trước đã làm sai và làm đúng. Cunhihihihi cùng nhóm của mình trở thành lực lượng dẫn đầu cho chuyến đi ấy.

Khi đoàn mới quay trở lại thành phố, khu vực an toàn cùng những thiết bị được để lại từ đợt trước trở thành điểm tập kết đầu tiên. Những thùng vật tư cũ được kiểm tra lại, các thiết bị khảo sát còn hoạt động được đưa về trạng thái sẵn sàng, còn những phần đã xuống cấp được thay bằng số mang từ Căn Cứ tới. Những bản đồ của các đợt trước được mở ngay tại chỗ thay vì chỉ dùng như tài liệu tham khảo ở bên ngoài.

Lần này họ không dàn người ra thành nhiều nhóm nhỏ hoạt động lâu ngày ở những vị trí tách biệt. Đội hình được giữ gọn hơn. Một bộ phận đi trước để kiểm tra đường, đánh dấu những thay đổi so với bản đồ cũ và xác nhận tuyến rút vẫn còn dùng được. Phía sau là nhóm mang thiết bị đo, ghi hình và thu mẫu. Những người có khả năng chiến đấu tốt được phân bố ở cả trước lẫn sau thay vì tập trung hết vào mũi tiên phong.

Cunhihihihi phần lớn di chuyển ở phía trước nhưng không lao lên quá xa. Mỗi khi nhóm khảo sát dừng lại trước một cấu trúc mới, Cun cùng những người còn lại kiểm tra không gian xung quanh trước, nhìn những lối có thể dẫn sinh vật tới và tìm chỗ đủ rộng để cả đoàn có thể xoay đội hình nếu buộc phải giao chiến. Những đoạn quá hẹp hoặc có quá nhiều Sculk phủ kín được đánh dấu lại; có nơi họ chủ động bỏ qua dù thiết bị cho thấy bên trong còn cấu trúc đáng khảo sát, vì một phát hiện mới không đáng để đổi lấy việc cả đội bị kẹt ở một vị trí không có chỗ lùi.

NiFoFo không thuộc đoàn này; ở thời điểm chuyến đi bắt đầu, cậu vẫn theo dõi chương trình qua những báo cáo có thể tiếp cận và tiếp tục xử lý công việc bên ngoài Ancient City.

Kế hoạch mới thực sự có tác dụng.

Trong giai đoạn đầu, đoàn tiến sâu hơn mà không lặp lại đúng sai lầm của đợt trước. Khi bắt gặp những nhóm sinh vật nhỏ, họ không mặc định phải tiêu diệt. Nếu có thể chờ chúng rời khỏi khu vực, họ chờ. Nếu buộc phải giao chiến, cả đội xử lý nhanh rồi rời vị trí trước khi tiếng động kéo thêm thứ khác tới.

Một lần, ba sinh vật từ một dãy phòng sập lao ra đúng lúc nhóm khảo sát đang đo một bức tường có cấu trúc bất thường. Người đi đầu không lao lên chém ngay mà lùi về khoảng hành lang đã kiểm tra. Cun đứng lệch sang một bên, để con đầu tiên lao qua nửa thân rồi chém thấp vào phần chân. Nó đổ ngang, chắn chính hai con phía sau. Hai người khác lập tức áp vào, kết thúc con bị ngã trước khi khoảng trống mở lại.

Không ai đứng lại quá lâu. Nhóm khảo sát thu thiết bị đang dang dở, đánh dấu khu vực chưa hoàn tất rồi cả đoàn tiếp tục di chuyển.

Ở một đoạn khác, tiếng sập của một mảng kết cấu kéo một nhóm lớn hơn tới. Lần này không còn đủ thời gian để tránh.

“Lùi về chỗ rộng hơn.” Cun nói.

Đội hình vừa rút qua một khoảng nền rộng giữa hai dãy kiến trúc vừa lúc những sinh vật đầu tiên xuất hiện. Chúng không tới thành một khối duy nhất mà kéo ra theo từng hướng, con nhanh hơn chạy trước, những con nặng hơn theo sau. Nhóm chiến đấu không cố giữ một đường thẳng. Hai người kéo nhóm đầu sang bên trái, để phần giữa đội hình có chỗ rút. Một người dùng mảng kết cấu thấp làm điểm tựa, ép một sinh vật phải vòng qua thay vì lao thẳng vào nhóm mang thiết bị.

Cun lao vào con gần nhất khi nó vừa đổi hướng. Thanh kiếm đánh bật phần đầu lệch sang một bên, nhưng cậu không dừng lại để kết liễu. Cậu bước xuyên qua khoảng trống vừa tạo, chém tiếp vào con thứ hai đang lao về phía nhóm khảo sát. Phía sau, người vừa được giải vây quay lại xử lý con đầu tiên.

Một con khác trèo qua phần tường thấp rồi rơi xuống giữa đội hình. Hai người gần đó lập tức tách sang hai bên. Cun nghe tiếng va phía sau, quay lại vừa lúc sinh vật vung cánh tay xuống thiết bị đặt trên nền. Cậu chen vào khoảng giữa, đỡ lệch cú đánh rồi dùng vai hất nó khỏi hướng cũ. Một người khác đánh vào phần thân vừa lộ.

“Không ở lại nữa.” Cun nói.

Họ rút ngay sau khi mở được đường.

Vài phút sau, từ những hành lang phía sau đã có thêm tiếng chuyển động vọng tới.

Những sự cố như vậy xảy ra thêm vài lần trong quá trình tiến sâu, nhưng lần này đoàn kiểm soát được chúng. Họ không còn duy trì một khu vực hoạt động đủ lâu để quái vật tích tụ quanh mình như đợt trước. Mỗi lần hoàn thành một đoạn khảo sát, dữ liệu được sao lưu, vị trí được đánh dấu, rồi đội hình tiếp tục di chuyển hoặc lùi về điểm đã chọn trước. Phần đường phía sau được kiểm tra lại theo chu kỳ để tránh tình trạng tới lúc rút mới phát hiện tuyến cũ đã thay đổi.

Nhờ đó, phạm vi mà họ tiếp cận tăng nhanh hơn rõ rệt.

Các công trình cũng thay đổi theo độ sâu. Những gian phòng còn giữ được hình dạng bắt đầu ít đi, nhường chỗ cho những khối kiến trúc bị Sculk phủ kín gần như toàn bộ. Các đường phát quang xanh lam bò qua tường, nền và trần thành những mảng dày như mạch máu. Không khí trở nên nặng hơn, thiết bị liên lạc bắt đầu xuất hiện những khoảng nhiễu ngắn và một số cảm biến phải được hiệu chỉnh lại nhiều lần mới giữ được số đọc ổn định.

Đoàn vẫn tiếp tục.

Mục tiêu của chuyến đi ngay từ đầu là vượt khỏi giới hạn cũ. Chừng nào tuyến sau còn giữ được, người còn đủ sức và dữ liệu chưa cho thấy nguy cơ vượt quá khả năng rút lui, họ vẫn có lý do để tiến thêm.

Một buổi khảo sát, hành lang mở ra thành một không gian cực lớn nằm sâu giữa lòng thành phố. Những khối kiến trúc xung quanh đã bị Sculk ăn gần hết đường nét, nhưng phần nền lại rộng bất thường, như thể nơi này từng được cố tình chừa ra quanh một cấu trúc trung tâm.

Ngay cả trước khi nhìn thấy toàn bộ thứ nằm ở giữa, đoàn đã nghe được nhịp đập.

Chậm.

Nặng.

Đều đến mức rất khó nhầm với âm thanh từ đá hay máy móc còn sót lại.

Ở trung tâm không gian ấy là một ma hạch màu đỏ khổng lồ.

Nó có hình dáng gần giống một trái tim bị phóng đại tới kích thước không còn hợp với bất kỳ sinh vật bình thường nào. Bề mặt đỏ sẫm đan với những dải Sculk xanh lam chạy xuyên qua như mạch. Mỗi lần hạch co lại, những đường sáng trên nền quanh nó cũng thay đổi cường độ theo sau một nhịp ngắn. Nhiều phần của nó đã mọc liền vào nền và tường, như thể cả khu vực xung quanh được nối trực tiếp với khối lõi ấy.

Cun không cho ai tiến thẳng tới.

Đoàn dừng ở ngoài phạm vi gần nhất, dựng một vòng quan sát tạm thời và kiểm tra lối rút trước. Hình ảnh được ghi từ xa. Cảm biến thử đọc phản ứng năng lượng, nhiệt độ và dao động. Không ai chạm vào bề mặt hạch.

Trong vài phút đầu, nó không làm gì ngoài việc tiếp tục đập.

Không ai tiến thêm.

Những bài học của nhiều tuần trước được áp dụng gần như theo bản năng. Người đứng gần nhất hạ trọng tâm, bước chậm tới mức phần đế giáp gần như không phát ra tiếng trên nền đá. Thiết bị không được đặt thẳng xuống mặt đất mà chuyền qua tay rồi kê lên những miếng đệm mang theo từ điểm tập kết. Những người cần trao đổi chỉ dùng dấu tay hoặc những câu ngắn vừa đủ nghe. Ngay cả việc đổi vị trí cũng được thực hiện từng người một để tránh tạo ra một chuỗi rung động lớn trên nền.

Nhóm khảo sát bắt đầu từ xa.

Một thiết bị quét được dựng lên ở rìa không gian. Một người khác ghi lại nhịp co bóp của hạch. Những đường Sculk nối từ nền lên phần lõi được đánh dấu trên bản đồ tạm thời, nhưng không ai bước lên chúng. Khi cần đổi góc quan sát, họ đi vòng theo phần nền ít bị xâm thực hơn thay vì cắt thẳng qua trung tâm.

Cun đứng giữa nhóm khảo sát và tuyến rút.

Cậu không nhìn hạch quá lâu. Phần lớn thời gian, ánh mắt của cậu vẫn quét qua những cửa mở, các khoảng tối phía sau những khối kiến trúc và con đường duy nhất dẫn ngược ra ngoài. Họ đã đi sâu hơn mọi đợt trước. Nếu thứ gì đó xảy ra ở đây, khoảng cách tới điểm tập kết không còn là một đoạn đường có thể chạy vài phút rồi tới.

Một người ở gần thiết bị đo giơ tay.

Kim chỉ số vừa dịch.

Rất nhẹ.

Người bên cạnh nhìn lại màn hình rồi chỉnh độ nhạy. Con số trở về gần mức cũ.

Không ai nói gì.

Vài nhịp sau, nó lại tăng.

Lần này không ai chạm vào thiết bị.

Ở giữa khoảng không, ma hạch vẫn co bóp đều đặn.

Thình.

Một nhịp.

Thình.

Một nhịp khác.

Nhìn bằng mắt thường, gần như không có gì thay đổi.

Đoàn tiếp tục quan sát.

Một mẫu dữ liệu được ghi lại. Một bức ảnh khác được chụp. Một người lùi ra thay pin cho thiết bị trước khi tiến lại vị trí cũ. Không ai chạm vào hạch. Không ai thử cắt một phần Sculk. Không ai đưa vũ khí hay công cụ vào gần bề mặt đỏ.

Mọi thứ họ có thể làm để tránh đánh thức một thứ chưa hiểu, họ đều đã làm. Nhưng các số đo vẫn tiếp tục dịch theo một hướng rất nhỏ: không có cú giật mạnh, không có tiếng gầm, cũng không có một hành động nào đủ rõ để bị gọi là nguyên nhân. Chỉ có những thay đổi nhỏ đến mức ban đầu vẫn có thể bị nhầm với sai số thiết bị.

Nhịp co bóp của hạch rút ngắn một phần rất nhỏ; các dải đỏ sẫm dưới lớp vỏ sáng rõ thêm rồi lại chìm xuống, trong khi một số đường Sculk trên nền bắt đầu lệch nhịp với phần còn lại.

Một người trong nhóm nghiên cứu nhìn số liệu, cau mày rồi mở lại bản ghi vài phút trước.

“Khoan.”

Cun quay sang.

Người đó không nói tiếp ngay. Anh ta kéo hai đường dữ liệu đặt cạnh nhau.

“Nhịp của nó đang thay đổi.”

“Bao nhiêu?”

“Rất ít.”

“Do thiết bị?”

“Chưa biết.”

Một người khác kiểm tra cảm biến cạnh bên.

“Không phải một cái.”

Ba thiết bị cho ba bộ số khác nhau, nhưng cùng chỉ về một hướng.

Hạch đang đập nhanh hơn.

Cun nhìn khối đỏ ở giữa không gian.

“Thu những gì đã lấy được. Chưa ai tiến gần thêm.”

Không ai phản đối.

Nhưng lúc ấy vẫn chưa có dấu hiệu nào đủ để họ hiểu rằng quyết định đó đã đến muộn.

Không phải vì đoàn làm sai.

Mà vì từ khoảnh khắc họ tiến đủ gần, việc đánh thức thứ bên trong gần như đã không còn phụ thuộc vào họ nữa.

Rồi nhóm cảnh giới phát hiện chuyển động.

Không phải một mục tiêu.

Nhiều mục tiêu.

Sinh vật bắt đầu xuất hiện ở các lối dẫn vào không gian trung tâm. Ban đầu chỉ vài con, nhưng những tiếng chuyển động khác nhanh chóng vọng tới từ phía sau chúng.

“Thu thiết bị gần hạch trước.” Cun nói. “Giữ đường về.”

Những sinh vật đầu tiên lao vào khi thùng thiết bị cuối cùng vừa được kéo khỏi vòng trong.

Cuộc giao chiến nổ ra trên chính khoảng nền rộng trước ma hạch.

Lần này đoàn có đủ không gian để triển khai đội hình. Những người mang vũ khí tầm gần giữ vòng ngoài, còn nhóm khảo sát và người mang trang bị rút dần về phía tuyến đã đánh dấu. Một con lao thẳng vào giữa bị chặn lại bằng hai đòn từ hai hướng. Con thứ hai đổi mục tiêu sang người đang kéo thiết bị; Cun cắt ngang đường đi, chém vào phần thân khiến nó xoay lệch rồi đá mạnh vào cạnh khớp để hất nó sang bên.

Một nhóm sinh vật khác tràn vào từ phía phải.

“Bên phải!”

Hai người lập tức đổi hướng. Một người giữ con đầu tiên, người còn lại đánh vào con vừa cố vượt qua. Một sinh vật nhỏ hơn bò thấp sát nền, luồn qua khoảng chân đội hình. Người ở phía sau dùng chính hộp thiết bị đã rỗng đẩy ngang đường chạy. Nó va vào cạnh hộp, lệch hướng vừa đủ để một nhát kiếm khác hạ xuống.

Tiếng kim loại, tiếng chân, tiếng đá vỡ và tiếng gào của quái vật nhanh chóng phá tan sự tĩnh lặng trước đó.

Những đường Sculk quanh ma hạch bắt đầu sáng mạnh hơn.

Không phải cùng một lúc.

Một đường gần chân hạch sáng lên trước, sau đó là một nhánh khác ở xa hơn vài mét. Rồi thêm một đường nữa. Ánh xanh chạy qua nền đá theo từng đợt, không nhanh như điện truyền mà giống một phản ứng đang lan dần qua mô sống.

Người trong đoàn vẫn có thể nghĩ đó là hệ quả của trận chiến.

Tiếng kim loại va nhau. Tiếng đá vỡ. Tiếng sinh vật gào. Tất cả đều là những thứ họ đã biết có thể khiến Sculk phản ứng.

Nhưng người đang giữ bảng số liệu gần nhất đã nhìn thấy khác biệt.

“Không đúng.”

Không ai nghe rõ giữa tiếng giao chiến.

Anh ta hét lớn hơn:

“Nó đổi nhịp trước lúc bọn này lao vào!”

Một người bên cạnh quay sang màn hình và kéo hai đường dữ liệu chồng lên nhau: một đường là thời điểm tiếng động tăng đột ngột, đường còn lại là nhịp co bóp của hạch. Phản ứng của hạch bắt đầu trước, chỉ một khoảng rất ngắn nhưng đủ để loại bỏ giả thuyết đơn giản nhất.

Một sinh vật lao tới từ bên phải. Cun chém ngang, ép nó lệch khỏi nhóm đang rút thiết bị rồi không quay lại nhìn bảng số liệu.

“Có quan trọng không?”

“Có.”

“Thế thì nói ngắn.”

Người kia nuốt một hơi.

“Nó không phản ứng vì tiếng động.”

Cun quay đầu đúng lúc khối hạch co lại lần nữa.

Thình.

Lần này âm thanh lớn hơn.

Không phải vì căn phòng yên hơn.

Mà vì chính nhịp đập đã nặng hơn.

Các dải đỏ dưới lớp vỏ nổi lên rõ rệt, chạy sâu vào phần lõi rồi biến mất trong những vùng tối. Một lớp vật chất mỏng trên bề mặt rung lên theo từng nhịp, giống như thứ bên trong đang ép từ phía sau.

Một người khác nhìn cảm biến rồi nói:

“Cường độ tiếp tục tăng.”

“Bao lâu rồi?”

“Ngay từ lúc chúng ta vào gần.”

Câu nói đó khiến vài người đồng loạt nhìn về phía hạch. Không ai cần giải thích thêm. Họ đã đi nhẹ, giảm tiếng động, không chạm vào lõi và thậm chí chưa lấy một mẫu vật nào từ vùng trung tâm — vậy mà nó vẫn thức dậy.

Thứ bên trong không cần một tiếng động đủ lớn, một cú chạm hay ai đó kích hoạt cơ cấu. Nó chỉ cần biết rằng ở gần mình có sự sống: cơ thể người, hơi thở, nhịp tim và dòng sinh lực đang vận hành qua từng cá thể trong đoàn, những thứ không thể tắt đi mà vẫn tiếp tục sống.

Tất cả những gì họ học được về việc giữ im lặng vẫn đúng, chỉ là nó đúng với đám sinh vật ngoài kia chứ không đúng với thứ này.

“Cun.”

Cậu không trả lời ngay.

Một con quái vật vừa lao tới. Cun bước lệch, dùng cạnh kiếm gạt phần tay khỏi hướng chính rồi đạp mạnh vào thân nó. Hai người phía sau kết thúc phần còn lại.

Khi quay lại, nhịp của hạch đã đổi rõ ràng.

Thình.

Thình.

Khoảng nghỉ giữa hai lần co bóp ngắn hơn trước.

“Rút khỏi khu trung tâm.” Cun nói.

Không ai tranh luận.

Nhóm khảo sát lập tức kéo thiết bị về. Một người cúi xuống tháo dây nối khỏi bộ cảm biến nhưng tay bị vướng vào móc khóa. Người cạnh bên không chờ, cắt luôn dây rồi kéo cả hai lùi lại.

“Bỏ cái đó.”

“Còn dữ liệu—”

“Đã sao lưu chưa?”

“Rồi.”

“Thế bỏ.”

Chiếc giá đo bị để lại.

Đội hình bắt đầu lùi.

Đám sinh vật phía trước vẫn ép vào.

Một con lớn hơn bình thường lao thẳng vào khoảng trống vừa mở. Cun đỡ cú va đầu tiên, trượt lùi trên nền đá rồi xoay thanh kiếm dọc theo sườn nó. Hai người khác lập tức áp lên, ép sinh vật lệch khỏi tuyến rút.

Phía sau họ, ma hạch co lại.

Không còn giống một nhịp đập bình thường nữa.

Toàn bộ khối đỏ thắt vào trong trong một khoảnh khắc rồi bung ra.

Rắc.

Một âm thanh nhỏ.

Nhưng đủ sắc để lọt qua mọi tiếng va chạm khác.

Một người quay đầu.

“Có vết nứt.”

Trên bề mặt hạch, một đường đen mảnh vừa xuất hiện.

Ban đầu nó chỉ dài bằng cánh tay.

Rồi nhịp tiếp theo tới.

Thình.

Đường nứt kéo dài.

Một ít chất đỏ sẫm rỉ ra từ mép, nhưng không chảy xuống. Nó bám vào bề mặt, bị những sợi Sculk xung quanh hút ngược trở lại.

“Đi!”

Cun vừa hét vừa đẩy lùi một sinh vật khác.

Cả đội bắt đầu tăng tốc.

Họ vẫn giữ đội hình, nhưng lúc này không còn ai quan tâm tới chuyện bước chân có tạo bao nhiêu tiếng nữa.

Một nhịp khác.

Lần này toàn bộ những đường Sculk nối với hạch đồng loạt lóe sáng.

Không chỉ dưới nền.

Cả trên tường.

Trên những trụ đá.

Trong các khe kiến trúc mà trước đó họ còn không nhận ra có Sculk chạy qua.

Ánh sáng lan ra như thể cả khu vực trung tâm vừa cùng nhận một tín hiệu.

Rắc.

Vết nứt thứ hai xuất hiện.

Rồi thứ ba.

Một kỹ thuật viên nhìn lại bảng số liệu, nhưng chỉ kịp thấy các con số vượt khỏi dải đo trước khi màn hình nhiễu thành một dải sáng.

Anh ta buông thiết bị.

“Không đọc được nữa!”

Không ai trả lời.

Ma hạch co thêm một lần.

Mạnh tới mức phần nền ngay sát nó rung lên.

Một mảng vỏ đỏ lớn phồng ra ngoài.

Không phải nứt tự nhiên.

Có thứ gì đó đang ép từ phía trong.

Mảng vỏ rung.

Lùi lại.

Rồi bị đẩy ra mạnh hơn.

Một đầu nhọn đen sẫm xuyên qua trước.

Trong chưa đầy một giây, lớp vỏ quanh nó bị xé rộng.

Một cánh tay khổng lồ chọc xuyên ra ngoài.

Nó không rơi xuống vô định.

Nó chống thẳng xuống nền.

Ầm.

Cú chạm làm cả khoảng không rung lên.

Đá quanh điểm tiếp xúc nứt thành mạng lưới. Những thiết bị còn bỏ lại gần vòng trong bị hất tung. Một người đang lùi ở mép khu vực mất thăng bằng, ngã ngửa xuống nền; hai người phía sau lập tức kéo anh ta đi trước khi cánh tay kia chuyển động.

Nó co lại.

Rồi quét ngang.

“Xuống!”

Cun quát.

Những người ở gần nhất đồng loạt hạ thấp người. Cánh tay lướt qua phía trên, đập vào một cột đá bên cạnh và nghiền vỡ gần nửa thân cột.

Mảnh đá văng khắp nơi.

Một người bị trúng vào vai, xoay người ngã xuống.

“Đưa anh ta ra!”

Cun quay lại phía hạch.

Lớp vỏ vừa bị phá không khép lại.

Ngược lại.

Một phần khác của bề mặt đang phồng lên.

“Không chỉ một tay.”

Câu nói vừa dứt thì lớp đỏ phía đối diện nổ tung.

Cánh tay thứ hai xuyên ra.

Rồi một nhịp khác.

Một khối lớn hơn ở phần trên hạch rách toạc.

Cánh thứ ba xuất hiện, bám vào mép vỏ như một sinh vật đang tự kéo mình ra khỏi một cái kén quá chật.

Ma hạch rung dữ dội.

Những đường nứt nối vào nhau.

Từng mảng vỏ lớn bắt đầu bung khỏi bề mặt, kéo theo những sợi Sculk xanh lam căng ra như dây chằng rồi đứt phựt từng đoạn.

Thứ bên trong không còn nằm yên nữa.

Nó đang tự thoát ra.

Phần hạch đỏ rung dữ dội. Những mảng vỏ lớn lần lượt bung ra, kéo theo các sợi Sculk vẫn còn bám như dây chằng. Thứ bên trong bắt đầu tự kéo cơ thể mình ra khỏi khối lõi, từng phần một, cho tới khi một thực thể nhiều tay khổng lồ đứng giữa phần xác hạch bị xé mở.

Nó không có mắt theo cách con người quen nhìn.

Nhưng khi phần thân cuối cùng thoát khỏi lõi, toàn bộ cơ thể nó quay thẳng về phía đoàn.

Thực thể lao tới.

Trước khi lực lượng cứu hộ tiếp cận được, đoàn thám hiểm đã bị ép vào một trận tử chiến.

Cú đánh đầu tiên của thực thể phá nát phần nền nơi ba người vừa đứng. Đoàn tản ra theo phản xạ, nhưng nó không dừng sau một đòn. Một cánh tay quét ngang, cánh khác nện từ trên xuống, buộc những người phía trước vừa né vừa kéo đội hình lùi về hành lang duy nhất dẫn ra ngoài.

Cun lao sát vào phần bên hông của nó, chém vào một khớp đang mở. Lưỡi kiếm cắt xuyên lớp Sculk ngoài cùng, để lộ phần cấu trúc tối bên trong. Hai người khác thấy khoảng trống lập tức đánh tiếp vào đúng vị trí đó.

Vết thương mở rộng.

Rồi co lại.

Những sợi Sculk từ phần thân bên cạnh bò sang, kéo mép bị chém khép lại ngay trước mắt họ.

“Đừng đánh rải!” Cun hét. “Một điểm!”

Cả đội thử dồn công kích vào cùng một bên thân. Một người kéo sự chú ý bằng những đòn ngắn rồi lùi; Cun cùng hai người khác áp vào phần vừa lộ, liên tiếp phá cùng một vị trí. Trong vài giây, chiến thuật có tác dụng. Một cánh tay của thực thể mất nhịp, phần thân lệch sang bên và cả đoàn có thêm khoảng trống để rút những người đang mang thiết bị ra khỏi khu trung tâm.

Nhưng thực thể thay đổi cách đánh.

Nó không tiếp tục xoay theo Cun. Một cánh tay giả vờ quét về phía cậu, còn hai cánh khác đồng thời đập xuống nhóm đang rút phía sau. Cun phải bỏ vị trí đang có lợi để quay lại cắt ngang một đòn. Phần thân vừa bị phá nhờ đó có đủ thời gian để Sculk lấp lại.

Họ lùi vào hành lang.

Không gian hẹp hơn khiến số cánh tay của thực thể khó mở hết, và cả đoàn lập tức tận dụng điều đó. Một nhóm kéo sập phần kết cấu yếu đã đánh dấu trên đường vào. Đá đổ xuống, chặn nửa thân thực thể trong vài giây. Những người còn lại đồng loạt đánh vào phần cánh tay bị kẹt, phá một khớp lớn tới mức nó rơi hẳn xuống nền.

“Đi!”

Đội hình rút thêm một đoạn.

Phía sau vang lên tiếng đá vỡ.

Cánh tay vừa bị chém rời co giật trên nền. Những sợi Sculk từ phần vai đứt kéo dài ra, bám lấy nó rồi bắt đầu kéo ngược trở lại.

“Đừng trông chờ chặt tay nó.” Cun nói.

Thực thể phá nốt phần kết cấu đè trên người và tiếp tục tiến.

Từ đó, cuộc chiến biến thành một chuỗi thử nghiệm ngay giữa lúc rút lui. Họ khóa chân nó bằng những phần kết cấu còn dùng được. Nó xé khóa. Họ ép nó qua một lối hẹp rồi đánh từ hai phía. Nó chịu vài đòn, sau đó đổi cách bước và dùng một cánh tay che phần thân bị tập trung công kích. Họ dùng những điểm sập đã đánh dấu trên đường vào để tạo vật cản. Nó chậm lại, nhưng sau mỗi lần lại chọn một góc tiếp cận khác.

Đoàn không đứng yên để bị nghiền nát. Họ liên tục đổi cách đánh, kéo nhau ra khỏi những vị trí xấu và tận dụng mọi phần kiến trúc có thể biến thành vài giây khoảng cách. Nhưng thứ vừa chui ra khỏi hạch đỏ không chỉ khỏe và hồi phục nhanh. Nó đang học cách họ chiến đấu.

Nhưng kết quả lần nào cũng giống nhau. Những điểm khóa bị phá tung, phần cơ thể bị chém hỏng được Sculk bù lấp, còn thực thể sau mỗi lần mắc bẫy lại thay đổi cách tiếp cận. Đoàn không đứng yên để bị nghiền nát; họ thử mọi phương án có thể nghĩ ra, chỉ là mỗi lần thử đều phải trả thêm bằng sức lực, trang bị và người bị thương.

Khoảng trống trong đội hình tiếp tục tăng. Những người còn sức phải vừa giữ hành lang vừa dìu người không còn tự di chuyển được. Ý nghĩ đánh bại thực thể biến mất; điều duy nhất còn quan trọng là kéo dài tới khi cứu viện tới.

Ở phía ngoài, thông tin về tình trạng của đoàn khiến một lực lượng cứu hộ được tổ chức và tiến vào trên đúng tuyến xây dựng từ dữ liệu của các đợt trước. Đây là lúc NiFoFo mới trực tiếp nhập cuộc. Cậu đi cùng pha cứu viện/can thiệp, không phải với tư cách thành viên đã hiện diện từ đầu trong đội gặp nạn.

Lực lượng cứu hộ không bị lạc và cũng không có một đường vòng nào để lựa chọn. Nhưng đường tiếp cận từ bên ngoài tới cổng vốn xa, còn trên tuyến từ cổng vào thành phố họ gặp những đàn sinh vật mà các đoàn khảo sát trước không từng ghi nhận với mật độ tương tự. Cứu viện phải vừa chiến đấu vừa tiến nên không thể nhanh hơn chiến trường cho phép. Nguyên nhân của sự khác biệt ấy chưa được giải thích.

Sau khi lực lượng tiến vào Ancient City, những báo cáo chiến thuật mới từ NFF được chuyển riêng tới NiFoFo. Dữ liệu chưa đủ để giải thích bản chất của Sculk, nhưng chỉ ra một vấn đề thực tế hơn: con đường về phía lối ra không thể mặc định vẫn an toàn chỉ vì các đoàn trước đã đi qua nó. NiFoFo tách khỏi hướng tiến sâu của cứu viện và quay về phía cổng để kiểm tra, dọn tuyến rút. Lực lượng cứu hộ vẫn tiếp tục đi vào để tiếp cận đoàn mắc kẹt; không ai trong đội biết nguồn thông tin khiến NiFoFo đổi hướng đến từ NFF.

Cun nhìn đội hình phía sau rồi nhìn thực thể đang tiến tới. Nếu mọi người tiếp tục đứng lại đánh cùng nhau, họ chỉ kéo dài một trận thua theo cách khiến số người bị thương tăng thêm. Muốn đoàn còn cơ hội sống, phải có một khoảng trống đủ lớn để rút; muốn có khoảng trống đó, phải có người giữ con quái ở lại.

Trong số những người còn đứng được, Cun là người mạnh nhất.

Chuyến đi không được chuẩn bị như một chiến dịch tổng lực. Cun không mang theo toàn bộ trang bị mạnh nhất từng sở hữu; trên người chỉ có bộ giáp đã theo đoàn suốt quãng đường, một thanh kiếm và những thứ cần thiết cho hành trình. Cậu kiểm tra nhanh tình trạng của chúng rồi bước lên.

“Đưa người bị thương ra sau. Những người còn đánh được, mở đường.” Cun hạ mũi kiếm, giữ trọng tâm thấp hơn trước. “Con này để tôi.”

Không có vũ khí mới xuất hiện, cũng không có thay đổi nào trên bộ giáp. Chỉ có nhịp thở của Cun chậm lại và những động tác thừa dần biến mất. Từ đây, cậu không còn giữ sức cho một trận kéo dài; mọi thứ được dồn vào khoảng hành lang trước mặt.

Thực thể lao tới. Cánh tay đầu tiên quét ngang đủ mạnh để nghiền nát đá cổ hai bên, nhưng Cun lướt sát dưới quỹ đạo ấy, đổi hướng rồi áp vào phần khớp đang mở. Một nhát kiếm làm lớp vật chất bên ngoài nứt tung và cánh tay lệch khỏi hướng ban đầu.

“Đi!”

Hai người phía sau lập tức kéo một thành viên bị thương khỏi khu vực vừa mở ra.

Cánh tay thứ hai giáng xuống trước khi nhát kiếm đầu tiên kết thúc. Cun đạp sang mép hành lang, mượn một mảng tường sập để đổi độ cao rồi lao ngược trở lại. Cậu không cố thắng sức mạnh của đối thủ bằng sức mạnh; mỗi bước chân chỉ nhằm buộc nó xoay thân, đổi hướng hoặc ném lực vào nơi cậu vừa rời khỏi. Mỗi lần thực thể định quay sang đoàn, Cun lại xuất hiện trước mặt nó bằng một nhát kiếm vào khớp, một cú đánh vào phần thân vừa mở hoặc một vị trí đủ khó chịu để nó buộc phải quay lại.

Sau vài lần giao phong, Cun bắt đầu đọc được những dấu hiệu nhỏ trước từng kiểu tấn công: một bên vai hạ xuống trước cú quét ngang, phần thân trên co lại trước khi lao tới, những đường Sculk quanh khớp sáng mạnh hơn trước đòn nện toàn lực. Cậu không biết nguyên nhân và cũng không có thời gian tìm hiểu. Chỉ cần biết chúng xuất hiện trước đòn đánh là đủ.

Cun chém bật phần ngoài của một khớp, khiến cánh tay khổng lồ rơi xuống nền đá. Nhưng những sợi Sculk lập tức bò dọc phần vai bị phá, kéo cấu trúc trở về vị trí cũ.

“Vậy là kiểu này cũng không được.”

Cun đổi cách đánh. Cậu không còn cố phá hủy một bộ phận để tìm cơ hội kết liễu; mỗi đòn chỉ cần giữ thực thể lại. Một nhát vào khớp chân để cắt bước tiến, một đường kiếm ngang thân để buộc nó xoay, một cú áp sát đúng lúc nó chuẩn bị đổi mục tiêu. Thực thể khỏe hơn, hồi phục nhanh hơn và gần như không biết mệt theo cách con người phải chịu. Nhưng trong khoảng thời gian đoàn cần, nó vẫn chưa thể bước qua Cun.

Lần đầu Cun thật sự bị đánh trúng không đến từ việc đọc sai đòn. Một người phía sau chưa kịp rời khỏi hành lang; Cun có đủ thời gian để né nhưng không đủ để cả hai cùng thoát. Cậu đổi hướng, chen vào giữa và đỡ trực diện.

Cú va chạm hất Cun vào bức tường đối diện. Một bên cánh tay gần như mất cảm giác, mỗi lần hít vào kéo theo cơn đau trong lồng ngực. Cậu chống tay đứng dậy trước khi bụi kịp lắng, thử đặt trọng lượng lên chân rồi chỉ nói:

“Đưa người đó đi.”

Từ cú đánh ấy, trận chiến bắt đầu để lại dấu vết rõ ràng trên người Cun. Giáp nứt, máu thấm qua một bên người, thể lực giảm dần. Những chuyển động được rút ngắn tới mức cần thiết: né vừa đủ, chém vừa đủ, lùi vừa đủ để lấy hơi rồi lập tức trở lại. Càng mệt, cậu càng bỏ bớt những thứ không cần thiết.

Đau đớn không biến mất. Phần tay mất cảm giác không tự hồi phục, nhịp thở vẫn vấp mỗi khi lồng ngực chịu lực và bộ giáp tiếp tục xuống cấp. Nhưng cơ thể Cun bắt đầu tự sắp xếp lại cách dùng phần còn lại: trọng tâm dịch đi trước khi chân đau phải nhận tải, vai xoay vừa đủ để đường kiếm không kéo theo phần sườn bị thương, phản xạ nối thẳng tín hiệu từ chuyển động của thực thể với một bước né hoặc phản kích mà không còn chờ suy nghĩ hoàn tất. Những thay đổi nhỏ ấy không làm cậu khỏe lại. Chúng chỉ khiến mỗi phần sức lực còn lại bị lãng phí ít hơn lần trước.

Cun không biết cơ thể mình có giữ lại được bất kỳ điều gì sau trận hay không. Ở thời điểm ấy, câu hỏi đó không có giá trị. Cậu chỉ cần tiếp tục đứng ở đúng nơi khiến thực thể phải nhìn mình thay vì nhìn theo những người đang rút.

Thực thể cũng học. Một đòn quét giả kéo Cun sang trái, cánh tay khác vòng từ góc khuất và đánh cậu văng xuống nền. Lần này cậu nằm lại lâu hơn. Con quái lập tức bước qua vị trí ấy, hướng về phía những người đã rút xa hơn.

Một bàn tay bám vào mảng kết cấu bên cạnh. Cun kéo mình đứng dậy.

“Ê.”

Thực thể dừng lại.

Cun lau vệt máu nơi khóe miệng rồi dựng kiếm lên. “Nhìn bên này.”

Nó quay lại. Cun lao tới.

Từ lúc đó, trận chiến được chia thành những đoạn ngắn mà cơ thể cậu còn chịu nổi: vài bước áp sát, một lần né, một đòn phản kích, lùi ra lấy hơi rồi trở lại trước khi thực thể đổi mục tiêu. Mỗi lần bị đánh ngã, Cun chỉ cần nghe tiếng bước chân phía sau xa thêm một chút để biết mình vẫn chưa được phép nằm lại.

Rồi giữa tiếng va chạm và nhiễu tín hiệu, bộ đàm phía sau bắt được một chuỗi xác nhận.

“Bắt được tín hiệu rồi!”

Cun vừa tránh khỏi một cú đập, chân trượt trên bụi đá. “Của ai?”

“Cứu viện!”

Cun siết chuôi kiếm. “Vậy thì tốt. Giờ chỉ cần giữ thêm chút nữa thôi.”

Những đòn đánh đầu tiên từ lực lượng cứu hộ dội vào sườn thực thể, buộc nó khựng lại và xoay người. Một nhóm lập tức tiếp quản áp lực chiến đấu để kéo sự chú ý khỏi Cun; nhóm còn lại lao tới những người bị thương. Chỉ khi có người khác thật sự đứng vào khoảng trống trước mặt con quái, Cun mới chịu lùi.

Việc cứu chữa chỉ có thể diễn ra theo kiểu chiến trường. Thuốc giảm đau được xịt lên những vùng tổn thương nặng, các điểm chảy máu nguy hiểm được cầm lại và những phần cần cố định được băng nhanh để người bị thương còn di chuyển. Khoảng trống do cứu viện tạo ra đủ để đoàn bắt đầu di tản. Những người còn chiến đấu được chia nhau mở đường và bảo vệ đội hình, trong khi lực lượng cứu hộ vừa đánh vừa lùi.

Biết không thể cầm chân thực thể mãi bằng sức người, đội cứu hộ nhử nó qua một đoạn hành lang hẹp trên tuyến rút rồi kích hoạt bẫy. Khối kết cấu phía trên đổ sập cùng các điểm khóa xung quanh, chôn phần lớn cơ thể nó dưới đá và Sculk. Không ai đứng lại kiểm tra. Toàn bộ đội hình tiếp tục di chuyển.

Cái bẫy cho họ khoảng cách, không phải sự an toàn. Sau một quãng rút lui, những rung động quen thuộc lại truyền qua nền đá. Thực thể đã thoát ra và vẫn tiếp tục truy đuổi.

Cái bẫy chỉ đổi được thời gian lấy khoảng cách. Phía trước, đoàn cứu hộ tiếp tục kéo người bị thương ra ngoài; phía sau, thực thể vẫn đang phá từng lớp cản trên đường đuổi theo. Hai chuyển động ấy diễn ra trên cùng một tuyến nhưng không còn nằm trong tầm nhìn của nhau. Chính trong khoảng cách đó, NiFoFo hoàn thành phần việc mà những người còn lại tin rằng cậu đang làm.

Trong thời gian ấy, NiFoFo đã đi hết tuyến rút tới khu vực cổng. Theo đề xuất của NFF, cậu không lập tức quay lại. NiFoFo đi qua cổng, xuất hiện công khai trong tầm mắt của những người trực, ở lại đủ lâu để họ nhận ra và có vài tương tác ngắn như thể phần việc của cậu đã kết thúc.

Từ góc nhìn của người ở cổng, NiFoFo đã trở về an toàn.

Chỉ sau khi sự chú ý tại đó chuyển sang công tác cứu hộ và những luồng người khác, cậu mới rời khỏi tầm quan sát rồi âm thầm quay lại theo chính tuyến duy nhất dẫn vào Ancient City. Không có đường vòng thứ hai. Việc trở lại của cậu được giữ kín bằng khả năng che giấu vốn có của NFF, không phải bằng một lối đi chưa từng được biết tới.

Ở phía trong, dấu vết mới trên hành lang cho thấy đoàn thám hiểm cùng lực lượng cứu hộ đã đi qua chưa lâu. Một số mảng Sculk còn co giật quanh vùng vừa chịu va chạm, vài thiết bị bị bỏ lại trong lúc rút, còn từ phía sâu hơn là nhịp rung của thứ vẫn đang bám theo họ.

NiFoFo xác nhận tuyến phía trước đủ sạch để đoàn tiếp tục di chuyển. Sau đó cậu quay lại, một mình đi về phía thực thể đang truy đuổi.

NiFoFo không lập tức gọi Blade Unit. Cậu rút một thanh kiếm khác và giữ tốc độ, lực đánh, phản xạ trong giới hạn mà hồ sơ CR công khai của mình thể hiện. Cậu chưa cần thắng ngay; trước hết, cậu muốn biết thứ đang đứng trước mặt thực sự là gì.

NFF theo dõi trận chiến qua những gì NiFoFo quan sát và âm thầm giữ lại dữ liệu. Ban đầu, cậu xem thực thể như một sinh vật phản ứng theo bản năng trước rung động và âm thanh. Nhưng càng trao đổi đòn, giả thuyết ấy càng không phù hợp. Nó biết lựa chọn mục tiêu, đổi cách tấn công khi một phương án thất bại, giữ khoảng cách trước phản kích nguy hiểm và tìm góc tiếp cận khác.

NiFoFo bắt đầu thử phản ứng của nó bằng lời nói. Khi cậu thay đổi câu hỏi và ngữ điệu, phản ứng của thực thể cũng thay đổi. Nó có lúc khựng lại, có lúc đổi hướng trước khi NiFoFo thực hiện động tác tiếp theo. Sinh vật trước mặt có ý thức tự chủ và, ít nhất ở một mức độ nào đó, hiểu lời nói.

“Vậy thì ngươi hiểu ta. Vì sao ngươi cứ truy đuổi họ?”

Giữa chuỗi âm thanh méo mó xuất hiện vài từ đủ rõ:

“Chúng… chạy.”

“Chạy để sống. Điều đó có gì đáng để ngươi truy giết?”

“Muốn sống… thì phải lấy.”

“Lấy cái gì?”

“Chỗ. Thức ăn. Sự sống.”

NiFoFo hỏi nơi này từng là gì, ai đã xây thành phố và chuyện gì xảy ra với những người sống ở đây. Phần lớn câu trả lời chỉ còn là âm tiết vỡ vụn. Khi được hỏi ai đã xây nơi này, thực thể đáp “Đồng loại”. Khi được hỏi chuyện gì xảy ra với họ, câu trả lời đến gần như ngay lập tức:

“Không đủ mạnh.”

Một cánh tay quét tới. NiFoFo tránh khỏi, lướt sát thân nó và rạch qua lớp vật chất bao phủ cơ thể. Vết thương lập tức bị Sculk co lại bù lấp.

“Không đủ mạnh nên đáng chết?”

“Không sống được… thì chết.”

“Còn ngươi?”

“Ta chọn sống.”

“Bằng cách bỏ lại đồng loại của mình?”

“Ta sống.”

“Để họ chết thay ngươi?”

Thực thể im một nhịp. “Khác gì?”

Ánh mắt NiFoFo thay đổi. Những câu trả lời đứt đoạn không cho cậu biết thực thể còn nhớ được bao nhiêu về quá khứ của chính nó. Nhưng cách nó nói về những kẻ đã chết khiến NiFoFo hiểu câu trả lời theo một hướng rất rõ: trước mắt cậu là một kẻ đã đặt sự tồn tại của bản thân cao hơn đồng loại, và không còn xem cái giá họ phải trả là điều cần phủ nhận.

Cho tới lúc đó, NiFoFo vẫn đối xử với nó như một đối tượng cần thăm dò. Cậu chủ động tránh những đòn có thể kết thúc trận chiến quá sớm vì cần dữ liệu và vì vẫn còn khả năng thứ trước mặt chỉ là một nạn nhân của thảm họa. Câu trả lời vừa rồi thay đổi điều ấy.

Hai bên tiếp tục giao chiến trong vài nhịp cuối với thanh kiếm ban đầu. Thực thể đã quen với giới hạn NiFoFo cố tình thể hiện. Nó giả một đòn quét thấp rồi tung cánh tay khác từ góc khuất, đánh cậu văng về cuối hành lang. Nền đá vỡ tung khi cơ thể NiFoFo va xuống. Thực thể lao vào màn bụi và giáng một đòn cực mạnh vào đúng vị trí ấy.

Khi bụi bắt đầu tan, bên dưới cánh tay của nó không còn ai.

Từ một góc xa phía sau, giọng NiFoFo vang lên:

“…Ra vậy.”

Cậu cất thanh kiếm đang dùng.

“Ngày xửa ngày xưa, có một người đàn ông đã sống sót qua một đại thảm họa.

Anh ta sống sót, rồi dành tất cả những gì còn lại để dựng nên một hệ thống bảo vệ nhân loại.

Nhưng sau cùng, vẫn có những giới hạn mà anh ta không thể vượt qua.

…

Còn tôi của hiện tại đã qua vô vàn rèn luyện về cả thể xác và tinh thần. Tôi sẽ không để điều đó xảy ra. Tôi—

sẽ vượt qua người đó.

Tunguska Nine Drive.

Blade Unit — Deploy.”

Blade Unit xuất hiện trong tay cậu. Đôi mắt NiFoFo chuyển nhẹ sang màu đỏ. Những giới hạn vận hành thường ngày lần lượt được tháo bỏ; dòng sinh mệnh bắt đầu đi vào thanh kiếm.

Nguồn cấp không còn là vấn đề.

Giới hạn còn lại là chính Blade Unit.

Output: 100%.

Con số ấy chỉ mô tả giới hạn vận hành của Blade Unit.

Nhát chém đầu tiên va thẳng vào cánh tay đang quét ngang, làm rung chuyển hành lang. Sculk trên tường đồng loạt phát sáng; những đường tĩnh mạch xanh lam co rút như thể cả mạng lưới vừa cảm nhận thứ đang trực tiếp cắt vào cấu trúc của nó. Blade Unit bắt đầu hút năng lượng từ mục tiêu.

Từ thời điểm đó, thế trận thay đổi.

NiFoFo không còn dành chuyển động để né mọi đòn đánh. Khi một cánh tay giáng xuống vai, cậu chấp nhận cú đánh để chém vào phần thân vừa lộ. Khi bị quét lệch khỏi quỹ đạo, cậu dùng chính lực va chạm để xoay người và trả lại một đường kiếm ở khoảng cách gần.

Những cú đánh vẫn gây tổn thương thật sự. Cơ thể NiFoFo không bất hoại; lực va chạm vẫn làm cậu chao đảo, thương tích vẫn tích lại và mỗi lần nhận đòn đều để lại hậu quả rõ ràng. Nhưng thay vì ưu tiên tránh mọi tổn thương, cậu chủ động đổi thương tích lấy vị trí tấn công. Mỗi lần Blade Unit cắt trúng, năng lượng bị kéo khỏi thực thể và chuyển vào lưỡi kiếm, khiến áp lực của những nhát chém sau tiếp tục tăng.

Thực thể vẫn có thể đánh trúng và làm cậu bị thương, nhưng không còn ép được cậu lùi lại. Khả năng phục hồi của nó bắt đầu hụt sau lượng tổn thương Blade Unit gây ra. Những vết chém từng khép gần như ngay lập tức giờ chỉ co rút được một phần trước khi đường kiếm mới mở ra ở vị trí khác. Các cánh tay mất dần nhịp phối hợp, khoảng nghỉ giữa các đòn kéo dài hơn.

“Đây là giới hạn của chính ngươi sao?” NiFoFo hỏi.

Cậu mở rộng các đường chém, buộc khả năng phục hồi phải xử lý nhiều tổn thương cùng lúc. Thực thể vẫn đánh trả dữ dội, nhưng mỗi lần nó hất NiFoFo xuống, cậu lại đứng dậy và tiến vào.

Khi một cánh tay khổng lồ vung xuống lần nữa, NiFoFo bước thẳng vào khoảng trống dưới quỹ đạo, đạp lên phần kết cấu nhô khỏi nền rồi bật lên cao. Blade Unit vẫn ở tay phải. Tay trái mở ra.

Tunguska Nine Drive — Mace Unit.

Khối vũ khí nặng xuất hiện giữa cú nhảy. NiFoFo dùng toàn bộ quán tính giáng Mace Unit vào phần cánh tay đã bị Blade Unit cắt phá nhiều lần. Lớp Sculk, vật chất bên trong và cấu trúc chịu lực cùng bị nghiền nát tại điểm tiếp xúc.

Cậu thu Mace Unit trở lại trước khi chân chạm đất. Blade Unit vẫn ở tay phải. Gần như không có khoảng nghỉ giữa cú nghiền vừa rồi và đường kiếm tiếp theo.

NiFoFo lại lao vào.

Từ thời điểm đó, thực thể không còn đủ thời gian để hoàn tất một chu kỳ hồi phục trước khi tổn thương mới xuất hiện. Những vết chém chồng lên nhau ở các vị trí mà lớp Sculk đang phải dồn lực tái tạo; càng cố vá một phần, những phần khác càng bị bỏ hở.

NFF liên tục cập nhật trạng thái mục tiêu: tốc độ tái tạo giảm, khả năng bù cấu trúc suy yếu, nhịp phối hợp giữa các chi bắt đầu lệch và lượng năng lượng khả dụng quanh phần thân trung tâm tiếp tục tụt. Dù vậy, thực thể vẫn cố lao tới.

NiFoFo đỡ lệch một cánh tay, để cú đánh trượt qua vai rồi xoay người áp sát. Blade Unit đi từ dưới lên thành một đường chém dài xuyên đúng vùng đã bị phá nhiều lần trước đó.

Lần này vết cắt không khép lại.

Những đường Sculk trên cơ thể nó sáng bùng lên như cố kéo toàn bộ phần còn lại về cùng một điểm, rồi tắt dần từng đoạn.

Một cánh tay vẫn cố nâng lên.

NiFoFo nhìn nó.

“Ngươi đã chọn sống.”

Blade Unit hạ xuống.

“Nhưng không phải mọi sự sống đều thuộc về ngươi.”

Nhát chém cuối cùng xuyên qua phần cấu trúc còn đang duy trì cơ thể. Toàn bộ hệ Sculk bám quanh thực thể co giật dữ dội trong vài giây rồi mất phản ứng. Những cánh tay lần lượt đổ xuống nền; phần thân khổng lồ nghiêng sang một bên và không còn đứng dậy.

NFF tiếp tục theo dõi thêm một khoảng. Không còn chuyển động chủ động, không còn phản ứng hồi phục có tổ chức và cũng không còn dấu hiệu cho thấy ý thức của thực thể vẫn duy trì. NiFoFo không chém thêm.

Thực thể trung tâm đã bị tiêu diệt.

Cái chết của thực thể không lập tức tạo ra một khoảnh khắc chiến thắng cho những người còn lại. Họ không nhìn thấy nhát chém cuối cùng, cũng không biết thứ phía sau đã thật sự ngừng truy đuổi. Trong lúc NiFoFo đứng lại giữa phần sâu của thành phố để xác nhận mục tiêu đã chết, đoàn ở phía trước vẫn tiếp tục rút như thể chỉ cần chậm thêm một lần nữa, con quái có thể xuất hiện sau lưng bất cứ lúc nào.

Phải khá lâu sau, đoàn thám hiểm mới dừng lại tại một khoảng không tạm thời đủ an toàn. Cun vẫn dẫn đầu đội hình trong phần lớn quá trình rút. Việc cứu chữa trước đó chỉ đủ để giữ cậu tiếp tục di chuyển; lúc này các lớp băng tạm mới được tháo, điểm chảy máu được xử lý cẩn thận hơn và những vùng tổn thương nặng được cố định.

Trong lúc số người, trang bị và thương tích được kiểm lại, lực lượng cứu hộ nhận ra NiFoFo không có mặt trong đội hình trở ra. Điều đó chưa khiến họ nghĩ tới tình huống xấu nhất. Khi tiến vào, họ đã thấy cậu tách khỏi hướng cứu viện để quay về kiểm tra tuyến rút. Khả năng hợp lý nhất là NiFoFo đã đi trước quá xa, đang xử lý một đoạn đường khác hoặc liên lạc bị Sculk làm gián đoạn. Không ai nhìn những rung động vọng lên từ phía sau và nghĩ chúng có liên quan tới cậu. Theo tất cả những gì họ biết, NiFoFo không có lý do ở hướng đó.

Phải thêm một quãng đường, đoàn mới thực sự về tới cổng. Những người bị thương được đưa qua trước. Khi số người được kiểm lại ở phía bên kia, chuyện NiFoFo chưa xuất hiện cùng đoàn cuối cùng cũng được hỏi thẳng.

Câu trả lời họ nhận được rất đơn giản:

NiFoFo đã trở lại qua cổng từ sớm.

Những người trực nhớ cậu khá rõ. NiFoFo xuất hiện trước khi đoàn chính rút về, ở lại đủ lâu để nhiều người biết cậu đã ra khỏi khu vực nguy hiểm. Chuyện đó hoàn toàn phù hợp với hướng di chuyển cuối cùng mà lực lượng cứu hộ biết: cậu đã tách khỏi họ về phía lối ra để dọn tuyến rút.

Thông tin ấy tự khép lại những suy đoán còn lại. Nếu NiFoFo đã trở về từ trước, các rung động trong thành trì, việc thực thể chậm truy đuổi và khoảng thời gian bất thường mà đoàn có thêm để rút lui không có lý do gì để bị liên hệ với cậu.

Từ góc nhìn của người ở cổng, NiFoFo đã về an toàn.

Từ góc nhìn của lực lượng cứu hộ, cậu vốn đã quay về phía lối ra từ trước khi họ tiếp cận đoàn mắc kẹt.

Chỉ NFF và NiFoFo biết rằng giữa hai thời điểm đó, cậu đã quay đầu.

Tới khi mọi người đều đã qua cổng, câu chuyện về NiFoFo tự khép lại bằng một chuỗi thông tin hoàn toàn hợp lý đối với những người có mặt. Không ai có lý do để nối khoảng trống phía sau đoàn với một người đã được xác nhận trở về từ trước. Vì vậy, điều Căn Cứ phải xử lý công khai không phải bí mật ấy, mà là những gì vẫn còn nằm ngay trước mắt: người bị thương, người đã mất và một chuyến thám hiểm phải được giải thích lại từ đầu.

Những giờ đầu sau khi trở về không dành cho tranh luận.

Người bị thương được đưa đi trước. Trang bị hỏng được gom riêng. Những vật dụng còn dính Sculk hoặc chưa xác định mức độ an toàn bị cách ly thay vì đưa thẳng trở lại kho chung. Những người còn đủ sức tự đi được yêu cầu kiểm tra lại tình trạng cơ thể trước khi rời khu tiếp nhận, kể cả khi họ khẳng định mình chỉ bị thương nhẹ.

Cun không tham gia ngay vào phần tổng hợp đầu tiên.

Những gì cậu nhận được trong lúc rút chỉ là sơ cứu để tiếp tục di chuyển. Khi đã qua cổng và không còn phải giữ đội hình, các vết thương mới được xử lý đúng mức. Một phần giáp được tháo ra bằng cách cắt bỏ vì đã biến dạng tới mức không thể mở theo cơ chế bình thường. Những chỗ từng được băng tạm được làm lại. Phần tay và thân đã chịu lực quá lớn phải được cố định trước khi bất kỳ ai nghĩ tới chuyện hỏi Cun thêm về trận chiến.

Những người khác cũng không khá hơn bao nhiêu.

Có người chỉ bị rách giáp và chấn thương nhẹ. Có người phải nằm lại theo dõi. Có người không thể tự bước qua cổng nếu không có người dìu. Và có những cái tên từ đầu chuyến đã nằm trong danh sách quân số nhưng không còn xuất hiện trong hàng người trở về.

Con số chính xác chưa được công bố ngay, nhưng chuyện đã có thương vong thì không thể che giấu. Khi tình trạng khẩn cấp qua đi, phần việc tiếp theo mới bắt đầu: từng người trong đoàn được lấy lời khai riêng.

Không phải để tìm một người chịu trách nhiệm ngay lập tức, mà để tránh ký ức của cả nhóm tự đồng bộ với nhau sau nhiều lần kể lại cùng một câu chuyện. Một người nhớ mình nghe tiếng nứt đầu tiên của hạch trước khi quái vật tràn vào. Người khác nhớ ánh sáng trên nền thay đổi trước đó. Có người chỉ tập trung vào việc kéo thiết bị và hoàn toàn không để ý tới nhịp của hạch cho tới lúc Cun ra lệnh rút.

Những khác biệt nhỏ được giữ lại thay vì bị ép thành một phiên bản thống nhất. Lời khai được đặt cạnh dữ liệu thiết bị, rồi tiếp tục đối chiếu với bản đồ đường tiến vào.

Bản đồ được đặt cạnh log liên lạc, thời điểm mất tín hiệu, vị trí các cuộc giao chiến và những mốc mà đội hình phải dừng lại.

Những thiết bị còn nguyên được đọc lại toàn bộ bộ nhớ. Những thiết bị hỏng nhưng còn lưu được dữ liệu cục bộ được tháo ra để trích xuất từng phần. Ảnh, đoạn ghi hình, số đo, timestamp và vị trí tương đối được ghép lại thành một timeline đủ rõ để thấy chuyến đi đã thay đổi trạng thái ở đâu.

Bức tranh chung dần hình thành. Ở giai đoạn đầu, kế hoạch mới đã hoạt động: đoàn giữ đội hình gọn hơn, hạn chế tiếng động nên giảm số lần phải giao chiến, tận dụng các tuyến đã khảo sát để tiến nhanh và dùng điểm tập kết cũ để rút ngắn thời gian chuẩn bị.

Các quyết định tránh một số khu vực nguy hiểm cũng được đánh giá là hợp lý dựa trên dữ liệu lúc đó.

Vấn đề không xuất hiện vì đoàn bỏ qua kinh nghiệm của những đợt trước. Ngược lại, họ đã áp dụng phần lớn những gì từng học được.

Biến cố xảy ra khi chuyến đi tiến tới một khu vực mà những kinh nghiệm ấy không còn đủ để bao quát.

Phần hạch đỏ được ghi thành một mục riêng. Không ai trong đoàn xác nhận đã chạm vào nó trước khi trạng thái thay đổi, và cũng không có bằng chứng cho thấy một thiết bị cụ thể đã kích hoạt hạch.

Không có khoảnh khắc nào đủ rõ để nói rằng một hành động đơn lẻ của ai đó đã trực tiếp gây ra toàn bộ sự cố.

Đối với báo cáo chính thức của đoàn, nguyên nhân thức tỉnh của thực thể vẫn chỉ có thể ghi ở mức:

chưa xác định đầy đủ tại thời điểm tiếp cận.

Những dữ liệu sâu hơn mà NFF về sau rút ra không nằm trong báo cáo này.

Phần giao chiến cho thấy không phương án nào hoàn toàn vô dụng, nhưng cũng không phương án nào giữ được hiệu quả lâu. Hành lang hẹp, vật cản, việc tập trung đánh vào những vùng đã bị phá và thay đổi người giữ áp lực đều chỉ mua thêm từng khoảng thời gian nhỏ. Chính những khoảng thời gian ấy cộng lại mới giúp phần lớn đoàn tồn tại đủ lâu để cứu viện tiếp cận.

Cunhihihihi được ghi nhận là người giữ áp lực lên thực thể lâu nhất trong giai đoạn đội hình bắt đầu rút. Hồ sơ không xem đó là một chiến thắng cá nhân; nhiệm vụ của cậu lúc ấy chỉ còn là giữ sự chú ý của thực thể đủ lâu để những người khác thoát ra.

Lực lượng cứu hộ sau đó tiếp cận đoàn, sơ cứu những người không thể tự di chuyển, tổ chức lại đội hình và dùng một cái bẫy để kéo thêm khoảng cách trước khi toàn bộ lực lượng tiếp tục rút.

Tới đây, báo cáo chính thức bắt đầu xuất hiện một khoảng trống. Thực thể đã phá bẫy và tiếp tục truy đuổi.

Sau một thời điểm, áp lực phía sau giảm đi đủ để đoàn có thể tiếp tục rút mà không bị bắt kịp.

Không ai trong đội hình đang rút nhìn thấy toàn bộ chuyện xảy ra phía sau.

NiFoFo, theo những gì mọi người biết, đã rời hướng tiến sâu từ trước để kiểm tra tuyến về cổng và sau đó đã được người trực cổng xác nhận quay ra ngoài.

Vì vậy trong hồ sơ công khai, đoạn cuối chỉ được ghi bằng một câu thận trọng:

Trạng thái cuối cùng của thực thể tại thời điểm đoàn rút khỏi phạm vi quan sát: không xác nhận.

Không ai trong buổi tổng hợp có đủ dữ kiện để viết khác.

Song song với báo cáo công khai, NFF mở một nhánh hậu kiểm riêng từ toàn bộ dữ liệu NiFoFo đã thu được trong trận chiến. Phần phân tích này không đi qua quy trình báo cáo của Căn Cứ và cũng không được dùng để lấp những khoảng trống mà đoàn thám hiểm chưa thể chứng minh.

Phần phân tích thật sự bắt đầu sau khi cuộc giao chiến đã qua.

Toàn bộ những gì NiFoFo nhìn thấy được NFF giữ lại làm dữ liệu thô. Cognis không đưa ra lời giải ngay lập tức. Hệ thống tách từng đoạn giao chiến, đối chiếu chuyển động, phản ứng với thương tích, khoảng cách tấn công, nhịp đổi thế và những lần thực thể thay đổi hành vi sau khi một phương án thất bại.

Một số nhận xét chiến thuật được rút ra khá sớm: thực thể biết học từ đối thủ, có khả năng điều chỉnh cách tiếp cận, lớp Sculk trên cơ thể tham gia trực tiếp vào quá trình hồi phục và phản ứng của nó với nội dung lời nói không hoàn toàn trùng với phản ứng trước âm thanh đơn thuần. Nhưng những dữ kiện đó mới chỉ mô tả thứ quan sát được bên ngoài.

Sau khi thực thể bị tiêu diệt, NFF mới có đủ điều kiện để đối chiếu dữ liệu chiến đấu với cấu trúc còn lại của cơ thể nó. Một báo cáo riêng được mở ra.

Kết luận đầu tiên khiến câu nói trong trận chiến mang một nghĩa khác hẳn:

“Chỗ. Thức ăn. Sự sống.”

Trong cơ thể thực thể tồn tại nhiều lớp vật chất sinh học không đồng nhất với cấu trúc nền của chính nó. NFF loại bỏ khả năng tất cả chúng phát sinh từ một cơ thể duy nhất: một phần vật chất của những sinh vật khác đã bị tiêu thụ, phân giải và đưa vào cấu trúc dùng để tái tạo, bù hư hại và duy trì cơ thể.

Nói đơn giản hơn, nó đã ăn trực tiếp những nạn nhân của mình.

Các lớp dấu vết Noetic Energy cũng không hoàn toàn khớp với pattern nền của thực thể. Theo mô hình phù hợp nhất, nó nhiều lần hấp thụ phần Life Energy mà những sinh vật khác đang tích lũy và giữ lại một phần trong hệ vận hành của chính mình. Nó không tạo ra nguồn năng lượng mới; nó lấy phần đã tồn tại trong kẻ khác.

Vì vậy, thức ăn là vật chất cơ thể, còn sự sống là phần Life Energy/Noetic Energy nó chiếm lấy. Mức độ chồng lớp cho thấy quá trình ấy đã lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian dài, dù NFF không thể xác định chính xác số nạn nhân.

Hạch đỏ cũng được đánh giá lại. Nó không phải nơi thực thể tình cờ mắc kẹt, mà là trạng thái ngủ đông giúp giảm tiêu hao giữa những lần săn. Khả năng cảm nhận sự sống vẫn duy trì trong trạng thái ấy; khi một nguồn sống tiến đủ gần, quá trình thức tỉnh bắt đầu.

Đoàn thám hiểm vì thế đã bước vào phạm vi săn của một sinh vật đang chờ con mồi mới.

NiFoFo đọc phần kết luận rất lâu. Trong trận chiến, cậu đã hiểu “Ta chọn sống” như lời của một kẻ đặt sự tồn tại của bản thân lên trên những kẻ khác. Dữ liệu hậu kiểm cho thấy về sau thực thể tiếp tục biến những sự sống khác thành tài nguyên để kéo dài chính mình.

Một nhánh phân tích khác mở lại toàn bộ mẫu sinh học thu được trong các tháng khảo sát. Ở tầng công khai, Căn Cứ chỉ biết chúng không hoàn toàn đồng nhất; NFF chia được chúng thành hai pattern lớn.

Ở pattern thứ nhất, bên dưới lớp Sculk vẫn tồn tại cấu trúc nền có trước: dấu vết mô, hệ cơ quan và vật chất tích hợp cho thấy cơ thể hiện tại phát triển từ một sinh vật tiền thân đã bị Sculk tái cấu trúc.

Ở pattern thứ hai, NFF không tìm thấy lớp nền tương ứng. Không có ranh giới rõ giữa một cơ thể cũ và phần Sculk mọc thêm; cấu trúc sâu nhất còn truy được đã đồng nhất với hệ Sculk.

Sau khi loại dần khả năng sai số, mẫu hỏng và biến đổi quá sâu, Cognis giữ nguyên kết luận:

Giả thuyết toàn bộ quần thể sinh vật tại Ancient City đều là những cá thể cũ bị Sculk biến đổi không phù hợp dữ liệu.

Ít nhất một phần có cá thể tiền thân; ít nhất một phần khác được hình thành trực tiếp bởi hệ Sculk. Cơ chế tạo ra nhóm thứ hai, vai trò của Catalyst và Life Energy/Noetic Energy vẫn chưa đủ dữ liệu để khóa.

Thông tin này không đi vào báo cáo công khai. Với Căn Cứ, nguồn gốc thật của các sinh vật vẫn là một câu hỏi chưa giải được.

Nguồn gốc của thực thể, mức độ ký ức còn sót lại, nguyên nhân ý thức bị tha hóa và quan hệ thật sự giữa nó với thành phố vẫn cần thêm thời gian để xử lý. Cognis phải đối chiếu dữ liệu trận chiến với hồ sơ cũ, mẫu Sculk và những bản ghi khác trước khi bất kỳ giả thuyết nào có thể được xem là đáng tin cậy.

Báo cáo hậu sự kiện còn ghi nhận một bất thường khác: những đoàn đầu tiên không gặp lượng sinh vật cản tuyến như lực lượng cứu hộ đã gặp khi tiến vào trên cùng con đường. Dữ liệu hiện tại không giải thích được khác biệt ấy. Nó được giữ lại như một câu hỏi, không bị biến thành bằng chứng về một phe có tổ chức.

Khi xem bản tổng hợp, NiFoFo chợt nhớ tới một mục đã xuất hiện từ bản báo cáo thường niên trước đó: những tương quan có độ tin cậy thấp, không đủ ngưỡng để được đẩy lên thành cảnh báo. Cậu yêu cầu NFF mở lại chúng, lần này không giới hạn theo từng hồ sơ riêng.

Các cửa sổ dữ liệu lần lượt xuất hiện trên cùng một màn hình: Dị Linh Giới, Viễn Cổ Đại Lục, Vạn Tinh Giới, mạng lưới điểm neo và những trường hợp giới tầng từng mất ổn định. Trong từng hồ sơ, các dấu hiệu đều nhỏ và có lý do để nằm ở mức ưu tiên thấp. Đặt cạnh nhau, chúng vẫn chưa tạo thành bằng chứng về một nguồn gốc chung, nhưng cũng không còn dễ dàng bị nhìn như những mẩu thông tin hoàn toàn tách biệt.

“Có lỗi dữ liệu không?” NiFoFo hỏi.

“Không phát hiện.”

Cậu im lặng thêm một lúc. “Ta biết.”

Vấn đề không nằm ở việc NFF bỏ sót dữ liệu. Hệ thống đã lưu, mô phỏng và báo cáo đúng theo cách nó được thiết kế; chính cách phân loại ấy có thể khiến những tương quan yếu giữa nhiều lĩnh vực không bao giờ xuất hiện cạnh nhau trước người đọc báo cáo. NiFoFo vì thế yêu cầu mở thêm một tầng phân tích xuyên lĩnh vực và xuyên vị diện, giữ lại cả giả thuyết thiểu số, thay đổi độ tin cậy và những dấu hiệu cho thấy framework hiện tại có thể chưa đầy đủ.

Đó chưa phải đáp án về Ancient City hay Đa Vị Diện. Nó chỉ là lúc NiFoFo nhận ra mình cần bắt đầu đặt những câu hỏi khác.

Những kết luận ấy được giữ ở tầng NFF. Với Căn Cứ và phần còn lại của xã hội, những gì có thể nhìn thấy vẫn chỉ là một chuyến thám hiểm đã gây thương vong, một báo cáo còn khoảng trống và hàng loạt câu hỏi chưa có lời giải.

Báo cáo có thể giữ lại những chỗ chưa biết bằng những câu chữ thận trọng, nhưng nó không thể giữ toàn bộ hậu quả bên trong một phòng tổng hợp. Danh sách người trở về, thương tích và những cái tên vắng mặt đã bắt đầu lan ra ngoài trước khi bất kỳ kết luận kỹ thuật nào được hoàn tất.

Báo cáo chưa hoàn tất thì tin về thương vong đã đi xa hơn phạm vi của những người trực tiếp tham gia.

Ban đầu chỉ là những mẩu thông tin rời rạc: một đoàn vừa trở về với nhiều người bị thương, Cun bị thương nặng, một số người không trở về, lực lượng cứu hộ phải tiến sâu hơn dự kiến và có một thực thể mà đoàn không thể xử lý bằng phương án thông thường.

Phản ứng xuất hiện gần như ngay lập tức, nhưng không theo cùng một hướng.

Ở những cộng đồng có nguồn gốc trực tiếp từ các phái đoàn cũ, câu hỏi chủ yếu vẫn xoay quanh chuyến đi: đường rút đã sai ở đâu, thông tin nào còn thiếu, vì sao liên lạc suy giảm và cứu viện có thể tới nhanh hơn bằng cách nào.

Thương vong khiến nhiều người nặng nề, nhưng với những người từng sống qua thời đại khai phá, bản thân việc một chuyến đi nguy hiểm gây tổn thất chưa đủ để biến toàn bộ hoạt động thám hiểm thành một sai lầm. Họ muốn biết điều gì đã thất bại và phải thay đổi gì trước khi con người quay lại một nơi tương tự.

Ở một số cộng đồng Người 2.0, phản ứng lại đi xa hơn phạm vi kỹ thuật.

Họ yêu cầu được biết rõ hơn vì sao chuyến đi được tổ chức, mức nguy hiểm đã được đánh giá tới đâu và những cộng đồng có người tham gia đã được thông báo những gì trước khi đoàn tiến sâu.

Có nơi muốn tạm dừng các chuyến khảo sát sâu cho tới khi báo cáo hoàn tất; nơi khác chỉ yêu cầu công khai thêm dữ liệu thương vong và quy trình đánh giá rủi ro.

Một số nhóm khác bắt đầu hỏi liệu những cộng đồng trực tiếp cung cấp người, vật tư hoặc thiết bị có nên được tham gia nhiều hơn vào quá trình bàn bạc trước những nhiệm vụ có khả năng kéo cả hệ thống cứu viện chung vào cuộc.

Những yêu cầu ấy chưa tạo thành một lập trường thống nhất. Vẫn có Người 2.0 ủng hộ tiếp tục khai phá, cũng như có người từ các tổ chức lâu đời cho rằng cơ chế hiện tại cần được xem lại.

Nhưng khác với những năm đầu sau khi Người 2.0 thức tỉnh, các ý kiến ấy giờ không còn chỉ nằm trong vài cuộc tranh luận nhỏ.

Sau hơn hai năm, nhiều cộng đồng đã có dân số ổn định, kho riêng, sản xuất, thương mại, nhân lực và các tuyến hậu cần của chính mình. Họ chưa cần phải trở thành một liên minh để lời nói có trọng lượng. Chỉ riêng việc một số nơi cùng lúc yêu cầu thêm thông tin, tạm giữ nhân lực hoặc đề nghị xem lại quy trình cũng đã đủ khiến Căn Cứ không thể coi đó là phản ứng nhất thời.

Ancient City vì thế bắt đầu tạo ra một loại hậu quả mà các báo cáo kỹ thuật không thể tự giải quyết.

Không phải vì xã hội đã chia thành hai phe rõ ràng.

Mà vì lần đầu tiên sau một thời gian dài, cùng một biến cố đang khiến nhiều cộng đồng đặt ra những câu hỏi khác nhau về điều gì cần xảy ra tiếp theo.

Những tranh luận về Ancient City cuối cùng cũng đi tới một cuộc họp lớn hơn. Ban đầu, nội dung vẫn chỉ xoay quanh chuyến thám hiểm: báo cáo thương vong được đặt lên bàn, những đoạn dữ liệu có thể công khai được gửi tới các bên liên quan và các phương án tiếp tục khảo sát, tạm dừng hoặc giới hạn phạm vi tiến sâu được đưa ra để thảo luận.

Không ai phủ nhận chuyến đi vừa rồi đã vượt xa những gì họ dự tính, nhưng cũng không ai thống nhất được phải làm gì tiếp theo.

Những người có kinh nghiệm từ thời các phái đoàn cũ tập trung nhiều hơn vào những gì có thể sửa: tuyến cứu viện phải nhanh hơn, liên lạc ở độ sâu lớn cần phương án dự phòng và giới hạn rút lui phải được đặt sớm hơn. Một chuyến đi sau, nếu có, cũng phải mang theo lực lượng và thiết bị phù hợp với những gì họ vừa gặp.

Câu “nếu có” ban đầu gần như chỉ là cách nói.

Cho tới khi một đại diện từ một cộng đồng Người 2.0 lên tiếng.

“Khoan đã.”

Cuộc trao đổi chậm lại.

Người đó nhìn những phương án đang được chiếu trên màn hình.

“Các anh đang bàn chuyến sau.”

Không ai trả lời ngay.

“Vậy ai đã quyết định rằng sẽ có chuyến sau?”

Không khí trong phòng thay đổi.

Một người phía đối diện đáp:

“Chưa ai quyết định cả. Chúng ta đang thảo luận.”

“Nhưng toàn bộ phương án đều bắt đầu từ giả định rằng cuối cùng chúng ta vẫn sẽ quay lại.”

“Ancient City vẫn còn rất nhiều thứ chưa được khảo sát.”

“Đó không phải câu trả lời.”

Một khoảng im lặng ngắn xuất hiện.

Người kia tiếp tục:

“Người của chúng tôi tham gia chuyến đi.”

“Vật tư của nhiều cộng đồng được đưa vào.”

“Khi xảy ra chuyện, lực lượng cứu hộ chung phải tiến vào.”

“Người bị thương được đưa về hệ thống y tế chung.”

“Vậy tại sao câu hỏi đầu tiên sau khi có người chết lại là chuyến sau phải chuẩn bị tốt hơn thế nào?”

Một người khác lên tiếng:

“Bởi vì sai lầm không có nghĩa chúng ta ngừng khám phá.”

“Còn tôi cũng không nói phải ngừng.”

“Vậy vấn đề là gì?”

Người đại diện Người 2.0 nhìn thẳng sang phía bên kia.

“Vấn đề là ai có quyền quyết định cái giá mà những người khác phải cùng trả.”

Lần này không còn ai đáp ngay. Cuộc họp vốn được tổ chức để đánh giá một chuyến thám hiểm bắt đầu rời khỏi Ancient City; người ta chuyển sang nói về quyền huy động, tài nguyên chung và giới hạn mà một tổ chức có thể tự nguyện đưa người của mình vào vùng nguy hiểm trước khi quyết định ấy bắt đầu kéo theo trách nhiệm của những cộng đồng khác.

Có bên đề nghị mọi chuyến thám hiểm sâu phải được phê duyệt theo một cơ chế mới.

Có bên phản đối, cho rằng nếu mỗi cộng đồng đều có quyền ngăn một hoạt động chung thì xã hội sẽ không thể tiến thêm bước nào.

Một người nói:

“Không ai ép các anh tham gia.”

Một tiếng đáp lập tức vang lên từ cuối bàn.

“Nhưng khi các anh cần cứu viện thì đó còn là chuyện riêng của các anh không?”

Không khí lại chìm xuống.

Không ai rút vũ khí hay hét lên, nhưng giọng nói trong phòng đã khác lúc cuộc họp bắt đầu.

Một số nhóm nhỏ tuyên bố họ sẽ tạm thời không cung cấp thêm nhân lực cho các chuyến tiến sâu cho tới khi cơ chế ra quyết định được làm rõ.

Một vài nơi khác giữ lại vật tư vốn dự kiến dành cho chương trình khảo sát. Những quyết định ấy riêng lẻ không đủ để làm Căn Cứ ngừng hoạt động, nhưng đây là lần đầu chúng xuất hiện cùng một lúc.

Rồi một cái tên được nhắc tới.

“Elo Civil thì sao?”

Không ai trả lời ngay.

Tổ chức lớn nhất được hình thành từ Người 2.0 vẫn chưa công bố lập trường.

Một số bộ phận của họ rõ ràng có lợi ích từ việc tiếp tục khai phá. Tài nguyên mới, công nghệ mới và những tuyến phát triển mới đều có giá trị đối với một thế lực công nghiệp như Elo Civil.

Nhưng họ cũng chưa đứng ra bác bỏ những yêu cầu đang được các cộng đồng Người 2.0 khác đưa ra.

Khoảng im lặng ấy nhanh chóng bị mỗi phía hiểu theo một cách khác.

“Elo Civil đâu có ủng hộ việc đóng Ancient City.”

“Và họ cũng chưa nói cơ chế hiện tại nên tiếp tục.”

“Các anh đang lôi một tổ chức không có mặt ở đây vào để làm lá chắn.”

Người bên kia nhìn lại.

“Không.”

“Chúng tôi chỉ nhắc rằng họ tồn tại.”

Không ai nói thêm.

Hai năm trước, một vài cộng đồng nhỏ có thể bất mãn mà xã hội vẫn tiếp tục vận hành gần như không đổi. Giờ thì khác. Người 2.0 đã có làng của riêng mình, có sản xuất, kho, tuyến vận chuyển và nhân lực; một số tổ chức đã đủ lớn để những người khác phải cân nhắc phản ứng của họ trước khi đưa ra quyết định. Elo Civil chỉ là cái tên dễ nhìn thấy nhất.

Cuộc họp kết thúc mà không có phương án chung cho Ancient City. Không có lệnh đóng cổng, nhưng cũng không có quyết định tổ chức chuyến đi tiếp theo.

Những người tham dự lần lượt rời khỏi phòng với những kết luận khác nhau về cùng một cuộc thảo luận.

Ngày hôm sau, một vài yêu cầu điều động nhân lực được trả lại với ghi chú cần xác nhận thêm thẩm quyền.

Một số kho yêu cầu văn bản rõ ràng trước khi xuất vật tư cho những hoạt động ngoài phạm vi đã thống nhất.

Ở vài cộng đồng, người ta bắt đầu thảo luận xem một quyết định của Căn Cứ thực sự mang ý nghĩa gì nếu cộng đồng của họ không đồng ý thực hiện nó.

Không có tiếng súng nào vang lên, cũng không có ai tuyên chiến. Nhưng lần đầu tiên kể từ khi xã hội mới được dựng lên, một điều vốn luôn được xem là hiển nhiên bắt đầu trở thành câu hỏi.

Khi một mệnh lệnh được đưa ra, ai thực sự có nghĩa vụ phải nghe theo?

Và không ai trong số họ biết rằng câu hỏi ấy rồi sẽ còn được nhắc lại rất nhiều lần.

Liên kết hồ sơ: [[01_tong_quan/can_cu_trung_tam|Căn Cứ Trung Tâm]] · [[03_the_luc/guider|GUIDER]] · [[03_the_luc/lang_cao|Làng Cáo]] · [[03_the_luc/giao_hoi_ca_noc|Giáo Hội Cá Nóc]] · [[03_the_luc/kaxilo|Kaxilo]] · [[03_the_luc/elo_civil|Elo Civil]] · [[03_the_luc/nff_nifofo|NFF]] · [[04_nhan_vat/mamoru_va_nguoi_2_0|Tiến sĩ Mamoru]] · [[04_nhan_vat/creepervn8450|CreeperVN8450]] · [[04_nhan_vat/cunhihihihi|Cunhihihihi]] · [[05_trang_bi/tunguska_nine_drive|Tunguska Nine Drive]] · [[07_he_thong/quan_he_giua_cac_the_luc|Quan hệ giữa các thế lực]] · [[07_he_thong/ly_thuyet_nang_luong|Lý thuyết năng lượng]] · [[07_he_thong/hoc_thuyet_da_vi_dien|Học thuyết đa vị diện]] · [[07_he_thong/co_che_cong_va_dinh_danh_the_gioi|Cơ chế cổng và định danh thế giới]] · [[08_sinh_vat/thuc_the_sculk_trung_tam|Thực thể Sculk trung tâm]]